TÔI


Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

Danh mục sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Đồng Ấu

Danh mục sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Đồng Ấu
Tiểu dẫn
Học vần
Bài tập đọc:
1. Tôi đi học.
2. Tập đọc.
3. Tập viết.
4. Yêu mến cha mẹ.
5. Giúp đở cha mẹ.
6. Thân thể người ta.
7. Khuyến học.
8. Đồ dùng của học trò.
9. Tràng học làng tôi.
10. Ăn uống có lễ phép.
11. Đứa trẻ có lễ phép.
12. Những giống vật nuôi trong nhà.
13. Gọi dạ bảo vâng.
14. Người học trò tốt.
15. Người học trò xấu.
16. Đi phải thưa, về phải trình.
17. Thờ cúng tổ tiên.
18. Học trò đối với thầy.
19. Anh em bạn học.
20. Sớm tối thăm nom cha mẹ.
21. Mùa cấy.
22. Mùa gặt.
23. Anh em như thể tay chân.
24. Chú bác cô dì.
25. Thức khuya, dậy trưa.
26. Học quốc ngữ.
27. Cảnh mùa xuân.
28. Mùa mưa.
29. Mấy điều cần cho sức khỏe.
30. Làm ruộng phải mùa.
31. Công việc ngoài đồng.
32. Con gà sống (trống).
33. Phải sạch sẽ.
34. Cây tre.
35. Chim hoàng anh.
36. Học hành phải siêng năng.
37. Cháu phải kính mến ông bà.
38. Cây to bóng mát.
39. Thờ mẹ kính cha. 
40. Đừng để móng tay.
41. Chớ nhổ bậy bạ.
42. Việc cày cấy.
43. Quyển gia phả (gia phổ).
44. Cái đồng hồ của anh tôi.
45. Ngày giờ.
46. Cầu mưa. 
47. Con cóc.
48. Chim chèo bẻo.
49. Thương yêu kẻ tôi tớ.
50. Không nên tắm rửa nước bẩn(1).
51. Đói cho sạch rách cho thơm.
52. Con trâu với người đi cày.
53. Tham thực cực than.
54. Cả nhà ai cũng có công việc.
55. Cánh đồng nhà quê.
___
(1) dơ.

Ghi chú:
Trong sách này, những tiếng đứng giữa ngoặc đơn, hay ( ), là tiếng Trung kỳ của tiếng Bắc kỳ đứng trước; những tiếng có số ở dưới bài là tiếng Nam kỳ của tiếng Bắc kỳ có số viết lên trên (superscript) tương ứng. 
Ví dụ 1: này (nầy); (nầy): tiếng “nầy”, đứng giữa ngoặc đơn ( ), là tiếng Trung kỳ của “này”, tiếng Bắc kỳ. 
Ví dụ 2: xin xem câu “Năm nay tôi lên(1) bảy” trong bài “1. TÔI ĐI HỌC” dưới đây và tiếng có số “(1) nên”, bên dưới bài (nhưng không nằm trong phần giãi nghĩa). Ở đây với “(1) nên” có nghĩa là “nên” là tiếng Nam kỳ của “lên” (1), tiếng Bắc kỳ với số viết lên trên ở đây là (1). Nói cách khác, “lên” là tiếng Bắc kỳ và “nên” là tiếng Nam kỳ có cùng một ý nghĩa. Xin xem chú cước ở cuối bài TIỂU DẪN trong QVGKT - Lớp Đồng Ấu.
Ngoài ra với các từ ghép, QVGKT ấn bản năm 1935 hay dùng dấu nối, hay hyphen (-), giữa các từ này. Ví dụ: cao-ráo, lêu-lổng trong QVGKT ấn bản năm 1935. Ngày nay ít ai dùng dấu nối (-) giữa các từ ghép, trừ các từ phiên âm từ các tiếng nước ngoài, như bu-gi, ki-lo-gam (do các từ bougie, kilogramme của Pháp).Trong bản đánh máy này, các từ ghép sẽ không dùng các dấu nối (-), khác với các từ ghép trong nguyên bản QVGKT- Lớp Đồng Ấu ấn bản năm 1935. 
(Ghi chú của TV).

1. TÔI ĐI HỌC
Năm nay tôi lên(1) bảy. Tôi đã lớn. Tôi không chơi đùa lêu lổng(2) như mấy năm còn bé. Tôi đi học. Tôi học đọc, học viết, học tính, học vẽ và nhiều khoa học khác nữa.
Tôi cố tôi học. Tôi chăm tôi học. Học sao cho mau tấn tới, cho “văn hay chữ tốt”, cho cha mẹ và thầy giáo được vui lòng.
_____
(1) nên. – (2) cà rởn.

Giải nghĩa
Lêu lổng = tha hồ chơi đùa không ai ngăn cấm.
Khoa học = các môn học dạy ở nhà tràng như luân lý, toán học, địa dư, sử ký.
Tấn tới = mỗi ngày một giỏi hơn lên.
Văn = chỉ các bài làm.
Bài tập

Học tiếng - Lêu lổng - khoa học - cố học - chăm học - tấn tới - văn hay chữ tốt - vui lòng.
Câu hỏi - Năm nay anh lên mấy? - Anh ra tràng học được bao lâu rồi? Anh học những gi? - Anh học làm sao?
Văn hay chữ tốt

2. TẬP ĐỌC
Thầy bảo anh Xuân đọc.
Anh ấy đứng dậy. Hai tay cầm quyển sách, nâng lên vừa tầm con mắt, không che lấp mặt đi. Anh đứng thẳng, đầu không lúc lắc. Mắt nhìn mồm đọc. Anh ấy đọc thong thả, rõ ràng từng câu một. Chúng tôi ngồi nghe, ai nấy cũng hiểu cả.
Anh ấy đọc hết bài, thầy bảo ngồi xuống.

Giải nghĩa
Lúc lắc = đưa đi đưa lại sang hai bên.
Vừa tầm con mắt = vừa để con mắt trông rõ không xa, không gần quá.
Bài tập

Học tiếng - Ngay - thong thả - rõ ràng - lúc lắc - vừa tầm.
Đặt câu - Phép đọc sách người phải đứng cho..... đầu không được ..... Quyển sách phải nâng cho….. con mắt. Tiếng đọc phải cho ….. và…..
Đọc sách thong thả rõ ràng

3. TẬP VIẾT
Anh Hạ đang tập viết. Anh ngồi ngay ngắn. Đầu hơi ngả về đàng trước, ngực không dựa vào bàn. Anh nhìn chữ mẫu thầy viết trên bảng đen. Anh cúi xuống viết. Tay trái đè lên quyển vở, thẳng với mép bàn. Tay phải (tay mặt) cầm bút(1), đưa lên đưa xuống trông cũng dẻo(2). Anh viết nét còn hơi run, nhưng thầy cho đã là khá, vì anh cẩn thận, chịu nắn nót(3) từng nét một.
_____
(1) cán viết. - (2) dịu dàng. - (3) nặn nọt.

Giải nghĩa
Chữ mẫu = chữ dùng để làm kiểu cho mình cứ theo như thế mà viết.
Khá = gần được.
Nắn nót = để ý cố viết cho tốt.
Bài tập

Học tiếng - Ngồi ngay ngắn - ngả đầu - dựa - tay trái - tay phải - dẻo - run - khá - nắn nót.
Câu hỏi - Phép ngồi viết: 1o người ngồi phải thế nào? - 2o đầu phải thế nào? - 3o ngực phải thế nào? - 4o tay trái để đâu? - 5o tay phải làm gi?
Ngồi viết không dựa ngực vào bàn

4. YÊU MẾN CHA MẸ
Sáng nay lúc tập viết xong, tôi lại thăm bà tôi. Bà tôi nắm lấy tay tôi mà hỏi rằng:
"Cháu có yêu thầy mẹ cháu không? - Cháu có yêu. - Tại làm sao mà yêu? - Cháu biết rồi, hôm qua thầy giáo mới dạy rằng: Cha mẹ sinh ra con, nuôi cho con lớn, lại chăm cho con học, vậy kẻ làm con phải biết yêu cha mẹ".

Giải nghĩa
Thăm = hỏi han ân cần.
Sinh = đẻ ra.
Bà = người sinh ra hay sinh ra mẹ mình.
Bài tập

Học tiếng - Biết yêu - lớn - chăm - con.
Đặt câu - Cha mẹ sinh ra .....- Nuôi cho con.....-Kẻ làm con phải......cha mẹ. -Thầy dặn rằng: học trò phải ..... học.
Làm con phải yêu cha mẹ

5. GIÚP ĐỞ CHA MẸ
Cha mẹ tôi, sáng nào cũng dậy sớm, nấu cơm ăn, rồi đi ra đồng, làm lụng khó nhọc. Về nhà lại phải chăm nom lợn, gà, xay lúa, giã gạo. Tôi thấy thế, lấy làm thương lắm, cho nên khi học, viết xong, thì tôi quét nhà, giữ em, hay chăn bò để giúp cha mẹ. Và khi cha mẹ có sai bảo việc gì, tôi cũng làm ngay.
Tôi giúp đỡ được việc cho cha mẹ như vậy, thì tôi rất lấy làm vui sướng.

Giải nghĩa
Nấu cơm = đổ nước, tra gạo vào nồi, đun nấu lên cho chín.
Xay lúa = đổ thóc vào cối rồi quay cho vỏ rời hạt gạo ra.
Giã gạo= lấy gạo đã xay rồi đổ vào cới mà đâm.
Bài tập

Học tiếng - Nấu cơm - khó nhọc - giúp đỡ - dậy sớm.
Đặt câu - Sáng nào tôi cũng.....- Cha mẹ tôi.....ăn rồi mới ra đồng làm. - Cha mẹ tôi làm lụng ...... tôi lấy làm thương lắm. -Tôi ..... được nhiều việc cho cha mẹ. 
Giúp đỡ cha mẹ

6. THÂN THỂ NGƯỜI TA
Thân thể người ta chia làm ba phần, là: đầu, mình và chân tay. Trên đầu thì có tóc, đàng trước là mặt. Đầu thì có cổ liền với mình. Đàng trước mình thì trên là ngực, dưới là bụng. Đàng sau mình là lưng. Chân tay liền với mình. Tay thì có cánh tay và bàn tay. Chân thì có đùi,ống chân và bàn chân. Tay để cầm, chân để đi.
Nguời ta lại có tai, mắt, mũi, mồm(1). Tai để nghe, mắt để trông, mũi để ngửi, mồm(1) để ăn.
___
(1) miệng.

Giải nghĩa
Thân thể = mình mẩy, chân tay.
Ống chân = phần chân từ đầu gối đến bàn chân.
Bài tập

Câu hỏi - Thân thể người ta chia làm mấy phần? Đàng trước mình có những gì? Đàng sau là gì? Chân tay để làm gi?
Tai để nghe, mắt để trông

7. KHUYẾN HỌC
(Bài học thuộc lòng)

Hỡi các cậu bé con!
Đang lúc tuổi còn non,
Các cậu phải chăm học,
Có học mới nên khôn.

Giải nghĩa
Khuyến học = khuyên bảo về việc học.
Hỡi = tiếng gọi đặt ở đầu câu.
Tuổi còn non = còn ít tuổi.
Khôn = biết hay, dở, phải, trái.
Bài tập

Học tiếng - Khuyến học - chăm học - khôn - tuổi còn non.
Đặt câu - Những bài ca khuyên bảo về việc học hành là bài.....- Lúc ta.....ta phải cố mà........Ta có chịu học thì mới.....
Có học mới nên khôn

8. ĐỒ DÙNG CỦA HỌC TRÒ
Học bài thì phải có sách; chép bài thì phải có vở; viết thì phải có quản bút(1), ngòi bút(2) và mực. Kẻ dòng (gạch hàng) thì phải có thước và bút chì. Muốn cho mực viết chóng khô thì phải có giấy thấm. Muốn xoá bỏ những chữ sai lầm phải có cái tẩy(3). Tập viết, tập vẽ, làm tính muốn cho tiện, phải có bảng đá và bút chì(4) đá.
Học trò đi học phải sắm cho đủ đồ dùng. Mà lại phải giữ gìn cho cẩn thận, chớ để mất mát, làm tốn tiền của cha mẹ.
___
(1) cán viết. - (2) ngòi viết. - (3) cục gôm. - (4) viết chì.

Giải nghĩa
Bảng đá, bút chì đá = gọi như vậy là vì làm bằng một thứ đá mềm và xam xám đen.
Sắm = mua cái gì để dùng.
Bài tập

Học tiếng - Học bài - chép bài - thấm - tẩy - sắm - cẩn thận - tốn tiền.
Câu hỏi - Sách, vở dùng làm gì? Bút, bút chì dùng làm gì? Thước, tẩy dùng làm gì? Bảng đá và bút chì đá dùng làm gì?
Giữ gìn các đồ dùng cho cẩn thận

9. TRÀNG HỌC LÀNG TÔI
Tràng học làng tôi ngăn làm ba gian. Mỗi gian là một lớp học. Mỗi lớp có một thầy giáo và nhiều học trò. Tôi học lớp Đồng ấu, đi vào thì ở bên tay phải (tay mặt).
Xung quanh tràng có một khoảnh đất thật to. Đàng trước thì là vườn hoa, cây cảnh tốt tươi đẹp đẽ. Đàng sau thì là sân chơi rộng rãi, anh em chúng tôi vẫn ra chơi bời và tập thể thao ở đó.

Giải nghĩa
Ngăn = chia cách biệt ra.
Gian = khoảng; có nơi gọi là căn.
Đồng ấu = trẻ con.
Tập thể thao = tập thân thể cho cứng mạnh.
Bài tập

Học tiếng - Gian - lớp - tay phải (tay mặt) - vườn hoa - sân chơi.
Câu hỏi - Tràng học làng anh có mấy lớp? Anh học ở lớp nào? Xung quanh tràng học có gì? Đàng trước có gì? Đàng sau có gì?
Tôi học ở lớp Đồng ấu

10. ĂN UỐNG CÓ LỄ PHÉP
Đến bửa ăn, tôi thấy cha mẹ, anh chị ngồi đông đủ cả rồi, tôi mới ngồi. Trước khi ăn, tôi mời cha mẹ, anh chị, rồi tôi mới ăn. Lúc ăn, tôi không nhai nhồm nhoàm, không khua đủa khua bát, và không đánh rơi đánh vãi. Cha mẹ cho món gì, tôi ăn món nấy. Không bao giờ tôi dám đòi ăn thứ nọ thứ kia, hoặc chê ít chê nhiều.
Khi ăn xong, bao giờ tôi cũng nói "xin vô phép"(1) cha mẹ và anh chị rồi tôi mới đứng dậy.
___
(1) Ở Nam kỳ thì không thế. Khi ăn xong thì hai tay nắm ngang lấy đôi đủa mà xá vài xá, rồi mới đứng dậy.

Giải nghĩa
Nhồm nhoàm = phồng mồm nhai tóp tép (nhóp nhép), không gọn gàng.
Khua = đụng chạm, gõ đập rầm rĩ.
Đánh rơi đánh vãi, có nơi gọi là làm rơi rớt.
Bài tập

Học tiếng - Bửa ăn - mời - khua bát - khua đủa - đánh rơi - đánh vãi.
Câu hỏi - Trước khi ăn thế nào là có lễ phép? Lúc ăn thế nào là ngoan? Khi ăn xong phải nói gì?
Ăn uống có lễ phép

11. ĐỨA TRẺ CÓ LỄ PHÉP
Anh Bình đang ngồi xem sách, chợt thấy một người khách lạ đến nhà. Anh liền đứng dậy, chấp tay vái chào. Khách hỏi: "Thầy mẹ em có nhà không? Anh đáp: Thưa ông, thầy mẹ con ra chợ vắng cả. Khách bảo: Khi thầy mẹ về thì em nói rằng có ông Bá ở làng bên lại chơi, nhé(1)! Anh Bình cúi đầu nói: Vâng ạ".
Ông khách ra về, khen thầm: thằng bé này thật có lễ phép.
___
(1) nghé. 

Giải nghĩa
Chợt = vụt chốc, bất thình lình.
Lạ = không quen biết.
Thầm = nghĩ trong bụng không nói ra.
Bài tập

Học tiếng - Chợ - khen - chấp tay - khách lạ.
Đặt câu - Thấy..... vào nhà phải chào. - Anh Bình đứng dậy..... vái chào.- Trẻ có lễ phép thì ai cũng .....- Mẹ tôi ra ...... vắng.
Khách vào nhà phải chào

12. NHỮNG GIỐNG VẬT NUÔI TRONG NHÀ
Những giống vật người ta nuôi trong nhà là: mèo, chó, lợn(1), gà, trâu, bò và ngựa.
Mèo thì bắt chuột, chó thì giữ nhà, lợn gà thì để ăn thịt, trâu bò thì để cày bừa ruộng đất, ngựa thì để cỡi hay kéo xe. Gống nào cũng có ích cho ta cả, cho nên khi ta đã nuôi nó thì phải cho nó ăn uống và chăm nom(2) đến nó, đừng đánh đập mà tội nghiệp.
___
(1) heo. – (2) coi sóc.

Giải nghĩa
Chăm nom = có bụng ân cần săn sóc đến.
Tội nghiệp = làm cái gì để tội cho mình.
Bài tập

Học tiếng - Giữ nhà - cày - bừa - cỡi.
Đặt câu - Ở nhà quê ai cũng phải nuôi chó để ..... - Ngồi trên lưng ngựa gọi là ... ngựa.- Lật đất lên gọi là..... - Làm nhỏ đất đã cày lên tức là.....
Chó giữ nhà mèo bắt chuột

13. GỌI DẠ BẢO VÂNG
Bảo vâng, gọi dạ, con ơi!
Vâng lời sau trước, con thời chớ quên.
Công cha, nghĩa mẹ khôn đền.
Vào thưa ra gửi, mới nên con người.
Giải nghĩa
Sau trước = cặn kẽ, bao giờ cũng vậy.
Khôn = khó, không dễ.
Đền = bồi thường, trả lại.
Gửi = trình, hỏi, thưa.
Bài tập

Học tiếng - Quên - vâng - dạ - đền.
Đặt câu - Cha gọi thì tôi....- Mẹ bảo gì thì tôi......- Nó không dám ..... lời thầy dặn. - Con phải ăn ở hiếu thảo để.... công cha mẹ.
Câu hỏi - Mẹ gọi thì con thưa thế nào? - Cha bảo gì thì con trả lời làm sao? Một đứa trẻ ngoan phải làm thế nào để đền công cha mẹ?
Gọi dạ bảo vâng

14. NGƯỜI HỌC TRÒ TỐT
Anh Cần rất chăm chỉ. Bài học nào anh cũng thuộc. Bài làm nào anh cũng được thầy khen. Anh đi học đúng giờ. Trong lớp anh có ý tứ và dễ dạy. Anh lễ phép với thầy, tử tế với bạn. Nên thầy và bạn ai cũng có lòng yêu mến anh.
Anh Cần là một người học trò tốt. Tôi cố bắt chước theo cho được như anh Cần.

Giải nghĩa
Ý tứ = để bụng nghĩ đến cái gì.
Dễ dạy = bảo cái gì nghe cái ấy.
Bài tập

Học tiếng - Chăm chỉ - đúng giờ - ý tứ - lễ phép - tử tế.
Đặt câu - Người học trò tốt đi học.....nghe lời thầy giải nghĩa. - Người học trò tốt.....với thầy.....với bạn và học hành.....
Học hành phải chăm chỉ

15. NGƯỜI HỌC TRÒ XẤU
Anh Tam ngày ngày cũng cắp sách đến tràng, nhưng kỳ thực anh ham chơi hơn thích học. Anh biếng nhác lắm. Đã lười nhác, anh lại còn lơ đễnh (lơ lễnh), khó bảo, vô phép và bẩn thỉu(1) nữa. Nên ở trong lớp, thầy quở phạt anh luôn và bạn hữu chúng tôi chẳng mấy người ưa anh được.
Nếu anh Tam không mau mau sửa tính lại, thì chẳng là đáng thẹn với quyển sách anh cắp đến tràng sao!
___
(1) dơ dáy.

Giải nghĩa
Ham chơi = mê chơi quá.
Lơ đễnh = không để ý vào việc mình làm.
Đáng thẹn = làm điều lỗi mà trong lòng lấy làm xấu hổ.
Bài tập

Học tiếng - Lười biếng - bẩn thỉu - vô phép - lơ đễnh.
Đặt câu - Người học trò không chăm chỉ là.....không có tứ là ..... không có phép là ..... không sạch sẽ là.....
Lười biếng thì khó đến thân

16. ĐI PHẢI THƯA, VỀ PHẢI TRÌNH
Trước khi anh Giáp đi đâu, anh cũng xin phép cha mẹ có cho đi, anh mới dám đi. Nếu không cho đi, thì chẳng bao giờ anh dám đi. Đến lúc về, anh lại trình cha mẹ rằng anh đã về. Như thế là anh Giáp biết giữ lễ phép với cha mẹ: đi phải thưa, về phải trình.

Giải nghĩa
Trình = nói với người trên rằng mình có việc gì hay làm việc gì.
Bài tập

Học tiếng - Đi đâu - xin phép - về - trình - lễ phép.
Đặt câu - Anh ..... mà vội thế? - Cha ra đồng đã..... rồi. - Con phải giữ..... với cha mẹ. - Hãy đợi đấy, để tôi vào.....cha mẹ tôi đã. - Em đã .....cha mẹ chưa mà dám đi?
Đi phải thưa, về phải trình

17. THỜ CÚNG TỔ TIÊN
Tổ tiên là các cụ đời xưa sinh ra ông bà, cha mẹ mình. Bởi có tổ tiên mới có ông bà cha mẹ, và có cha mẹ mới có mình. Vậy mình phải nhớ ơn tổ tiên mới đưọc.
Cho nên cứ đến ngày giỗ, ngày tết, thì con cháu đều đến tại nhà trưởng tộc mà cúng lễ tổ tiên.
Cũng có nhà, cứ ngày giổ cụ nào, thì người trưởng tộc lại kể tính hạnh và công đức của cụ ấy cho con cháu nghe. Vậy cũng là một cách tỏ lòng nhớ ơn rất hay.

Giải nghĩa
Trưởng tộc = người đầu họ.
Cúng lễ = lễ bái trước bàn thờ.
Tính hạnh = tâm địa và nết na.
Công đức = sự nghiệp tốt.
Bài tập

Học tiếng - Trưởng tộc - nhớ ơn - cha mẹ - tổ tiên. 
Đặt câu - Bởi có ..... mới có cha mẹ. - Bởi có ..... mới có mình. - Đến ngày giỗ, con cháu đều đến tại nhà ...... mà cúng lễ. - Cúng giổ là một cách tỏ lòng.....
Con cháu thờ cúng tổ tiên

18. HỌC TRÒ ĐỐI VỚI THẦY
Ở tràng học, thầy dạy gì tôi phải nghe, thầy bảo gì tôi phải làm. Tôi vâng lời thầy. Lúc vào học, lúc học về, tôi phải chào thầy. Cả những khi gặp ở giữa đường, hoặc ở nhà ai, tôi cũng phải vái chào cho có phép.
Tôi thật có bụng kính mến thầy tôi, chẳng khác gì kính mến cha mẹ vậy.

Giải nghĩa
Vâng lời = bảo sao nghe vậy.
Vái = chấp tay cúi đầu xuống. Có nơi gọi là xá.
Bài tập

Học tiếng - Kính mến - chào - làm - nghe.
Đặt câu - Khi thầy dạy gì thì phải.....thầy bảo gì thì phải.....Trong bụng lúc nào cũng phải ..... thầy.
Kính mến thầy như cha mẹ

19. ANH EM BẠN HỌC
Ở nhà tràng anh em bạn học nhiều. Mà chẳng mấy người là giống nhau: anh bé, anh lớn, anh cao, anh thấp. Anh thì quần nâu áo vải, anh thì the lụa lượt là(1). Có anh thật hiền lành tử tế, có anh lại hung dữ đáo để. Tôi, thì coi anh nào cũng như anh nào. Tôi không ăn hiếp ai, cũng không xấc xược với ai. Tôi có bụng nhuờng nhịn yêu quí tất cả các anh ấy như anh em ruột một nhà vậy.
___
(1) Anh thì quần bô áo vải, anh thì quần lụa áo hàng.

Giải nghĩa
Hung dữ = tính bạo tợn, hay quấy (khuấy) chọc.
Ăn hiếp = cậy khoẻ mà đè nén những kẻ yếu hơn mình.
Bài tập

Học tiếng - Anh em ruột - anh em bạn - bắt nạt - yêu quí - nhuờng nhịn.
Đặt câu - Anh em con một nhà là..... Anh em chơi bời với nhau là.....- Anh em chơi bời với nhau chẳng nên .....nhau .- Phải có bụng .....và .....nhau mới được.
Coi anh em bạn như anh em ruột

20. SỚM TỐI THĂM NOM CHA MẸ
Tối nào tôi cũng thăm nom(1) cha mẹ, rồi tôi mới đi ngủ. Sáng sớm dậy, tôi súc miệng, rửa mặt, mặc quần áo tiêm tất rồi, tôi lại đến hỏi thăm cha mẹ xem đêm qua có ngủ ngon không. Cha mẹ ngủ ngon thì tôi lấy làm vui mừng. Hoặc phải khi cha mẹ ngủ không được yên giấc, thì tôi lấy làm buồn rầu. Bao giờ tôi cũng mong cho cha mẹ được ăn ngon ngủ yên luôn.
___ 
(1) viếng.

Giải nghĩa
Súc miệng = ngậm nước vào mồm mà rửa rồi nhổ đi.
Tiêm tất = tử tế, chỉnh tề.
Ngủ ngon = ngủ được thích mắt, đẫy giấc.
Bài tập

Học tiếng - Sáng sớm - rửa mặt - vui mừng - buồn rầu - yên giấc.
Câu hỏi - Trước khi con đi ngủ phải làm gì? Sáng sớm dậy phải làm gì? Cha mẹ ngủ ngon thì mình thế nào? Cha mẹ ngủ không được yên giấc thì mình thế nào?
Sớm tối thăm nom cha mẹ

21. MÙA CẤY
Ở nhà quê, đến vụ cấy lúa, ngoài đồng trông cũng vui mắt. Chổ này (nầy) cày, chổ kia bừa, chỗ thì năm bảy người đàn bà cúi lom khom, tay cầm nắm mạ, tay cấy xuống ruộng. Những người đi cấy hay chuyện trò vui vẻ lắm. Có khi vừa làm vừa hát. Họ hát lắm câu thật là dịu dàng êm ái, ai cũng muốn nghe.

Giải nghĩa
Lom khom = cúi người xuống gần mặt đất.
Dịu dàng = êm giọng, dễ nghe.
Bài tập

Câu hỏi - Người đi cấy đứng thế nào? Hai tay làm gì? Người đi cấy làm gì mà vui?
Thợ cấy hát dịu dàng

22. MÙA GẶT
Đến mùa lúa chín, những người không có ruộng nương, rủ nhau đi gặt thuê(1).
Mỗi người vác cái đòn xóc hay cái đòn càn và đeo cái hái đi từng bọn năm bảy người. Họ đến những nhà có ruộng mà kiếm việc làm. Nhà chủ ruộng định công đặt giá xong rồi, cho người đưa họ ra ngoài đồng mà gặt.
Những người đi gặt thuê như thế thường được tiền và thóc đủ ăn trong hai ba tháng. 
___
(1) mướn.

Giải nghĩa
Đòn xóc = đòn gánh làm bằng nửa ống tre cái, hai đầu nhọn.
Đòn càn = cũng như đòn xóc, nhưng thường làm bằng cả ống tre đực.
Hái = một thứ đồ dùng để cho người đi gặt, gặt lúa; có nơi gọi là vằng.
Bài tập

Học tiếng - Định công đặt giá - ruộng nương - rủ nhau - đủ ăn.
Đặt câu - Có người làm lụng khó nhọc mà không ..... Những nhà có.....phải lo cày cấy. - Có .....rồi mới cho thợ ra đồng đi gặt. Những người không có ruộng nương, đến mùa......đi gặt thuê.
Những người đi gặt thuê được tiền đem về

23. ANH EM NHƯ THỂ TAY CHÂN
(Bài học thuộc lòng)

Anh em nào phải người xa.
Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân,
Yêu nhau như thể tay chân,
Anh em hoà thuận hai thân vui vầy.

Giải nghĩa
Bác mẹ = cha mẹ.
Thân = gần gặn, thiết tha.
Hai thân = hai cha mẹ.
Bài tập

Học tiếng - Chân tay - bác mẹ - hai thân - hoà thuận.
Đặt câu - Anh em có .....thì cha mẹ mới được vui. Anh em yêu nhau như thể.....-Nói ..... và..... cũng nghĩa là nói cha mẹ
Câu hỏi - Anh em phải yêu nhau như thế nào? Anh em không hoà thuận thì cha mẹ làm sao? Những người cùng chung bác mẹ là ai? Anh em là người xa hay gần?
Anh em như thể tay chân

24. CHÚ BÁC CÔ DÌ
Hôm nay, nhân có việc thằng em tôi nó hỗn với cô tôi, nên mẹ tôi đánh mắng nó rồi bảo chúng tôi rằng:
Chú, bác, cô, dì, cậu, mợ, là những bậc ngang hàng với cha mẹ mình, cùng dự phần vui buồn với cha mẹ mình. Vậy các con là cháu, cũng phải kính mến các bậc ấy như là cha mẹ. Các con cũng phải có lễ phép và vâng lời, mà không được hỗn láo, thì mới phải đạo làm cháu.

Giải nghĩa
Hỗn = vô phép với người bề trên.
Chú = em cha.
Bác = anh cha.
Cô = chị em với cha.
Dì = chị em với mẹ.
Cậu = anh em với mẹ.
Mợ = vợ cậu mình.

Bài tập

Học tiếng - Ngang hàng - lễ phép - đánh mắng - vâng lời.
Đặt câu - Vì em tôi hỗn láo, nên mẹ tôi......nó. - Chú, bác là bậc ......với cha mẹ. Cháu phải ..... với cô, dì.
Chú cũng như cha

25. THỨC KHUYA, DẬY TRƯA
Đêm đã khuya, hai em còn cứ chơi cười mãi. Chị hỏi: "Sao các em chưa đi ngủ thế? __Hai em đáp: Chúng tôi chưa buồn ngủ, hôm nay chúng tôi thức khuya chơi cũng được. Mai chủ(1) nhật nghỉ, tha hồ mà ngủ trưa.
__ Chị bảo: không nên. Các em không nên thức khuya: thức khuya hại sức khoẻ lắm. Mà các em cũng không nên dậy trưa: dậy trưa thì nặng nề, khó chịu, mà lại ra lười biếng. Người ta thức ngủ phải có điều độ mới được”.
___ 
(1) chúa.

Giải nghĩa
Tha hồ = ý nói ngủ trưa đến bao giờ dậy cũng được.
Điều độ = vừa phải.

Bài tập

Học tiếng - Buồn ngủ - nặng nề - khó chịu - điều độ.
Câu hỏi - Tại làm sao không nên thức khuya? Tại làm sao không nên ngủ trưa? Thức ngủ thế nào là phải?
Thức ngủ phải có điều độ

26. HỌC QUỐC NGỮ
Tí _Anh đi đâu đây?
Sửu _ Tôi đi học đây.
Tí _ Anh đi học tự bao giờ, anh học cái gì?
Sửu_ Tôi đi học đã được vài tháng nay. Tôi học quốc ngữ.
Tí _ Quốc ngữ là cái gì?
Sửu_ Khốn nạn! anh không biết quốc ngữ là chữ của nước ta ư? Học quốc ngữ thú lắm anh ạ. Mới có mấy tháng nay mà giấy má gì tôi đọc cũng chạy, và ai nói gì tôi viết cũng được.
Tí _Ồ thế à! Thế thì để tôi về tôi nói với thầy mẹ tôi cũng cho tôi ra tràng học.

Giải nghĩa
Quốc ngữ = chính nghĩa là tiếng nói triêng của một nước. Trong bài đây chỉ lối chữ của nước ta dùng thay chữ nôm.
Thầy = tiếng trẻ hay dùng để gọi cha.

Bài tập

Học tiếng - Học - đọc - viết - quốc ngữ - ra tràng.
Đặt câu - Tôi ..... quốc ngữ đã mấy tháng nay. Bây giờ tôi..... tôi.....quốc ngữ đã thông lắm. - ..... chính nghĩa là chữ của nước nhà. - Trẻ nước nhà ai cũng phải .....học quốc ngữ.
Tới tràng học quốc ngữ

27. CẢNH MÙA XUÂN
Một năm chia làm bốn mùa, là: xuân, hạ, thu, đông. Mà trong bốn mùa, thì mùa xuân là vui vẻ hơn cả. Vì mùa xuân trời không nóng, không lạnh. Lại có mưa phùn làm cho cỏ cây hoa lá đều có vẻ tốt tươi. Đến mùa ấy thì những loài chim, loài bướm, loài nào cũng hình như mạnh mẽ hớn hở hơn cả các mùa khác.

Giải nghĩa 
Mưa phùn = mưa hạt nhỏ lấm tấm.
Loài = cũng như tiếng giống.
Hớn hở = có vẻ vui mừng thỏa thích.

Bài tập

Học tiếng - Tốt tươi - hớn hở - ra vẻ.
Đặt câu - Cây cối mà có chăm bón thì mới.....Đến mùa có mưa phùn, thì cây cối xem.....đẹp đẽ lắm. - Anh Tí đi học được thầy khen, xem ra bộ.....lắm.
Mùa xuân là mùa vui vẻ

28. MÙA MƯA
Về mùa mưa, lắm khi trời mưa đến ba bốn ngày không ngớt. Những ngày mưa như thế, trên trời thường có mây kéo đen nghịt. Thỉnh thoảng có cơn gió mát lạnh, hay cái chớp sáng loè(1). Rồi trận mưa này chưa dứt, trận khác đã đến, cứ như trời trút nước xuống vậy.
Ngoài đồng thì nước mưa ngập cả. Đường sá thì bùn lầy, trong nhà thì ướt át bẩn thỉu(2), thật là khó chịu.
___
(1) lòa. – (2) dơ dáy.

Giải nghĩa
Ngớt = dứt trận mưa nhưng chưa tạnh hẳn.
Đen nghịt = đen khắp cả, không hở chỗ nào.
Trút = đổ xuống như rót.
Bẩn thỉu = có nơi gọi là nhớp nhúa, dơ nhớp.

Bài tập

Học tiếng - Mây kéo - ướt át - trận mưa - cái chớp.
Đặt câu - Lúc trời sắp mưa thì .... kín cả.- Trước khi nghe thấy sấm thì ta trông thấy.....- Hôm qua tôi đi học bị.....ướt hết cả.- Trời mưa lâu thì trong nhà.....lắm.
Trời mưa như trút nước xuống

29. MẤY ĐIỀU CẦN CHO SỨC KHỎE
(Bài học thuộc lòng)
Ăn uống vừa phải, chớ có tham lam. Thức ngủ điều độ, chớ nên thức khuya mà cũng chớ nên dậy trưa.
Làm lụng mệt nhọc phải có lúc nghỉ ngơi chơi bời.
Thân thể phải năng vận động.
Trong mình và nơi ăn, chốn ở, lúc nào cũng phải giữ cho sạch.

Giải nghĩa
Điều độ = cũng nghĩa như chừng mực. 
Năng vận động = Năng: luôn luôn; vận động: cất nhắc chân tay mình mẩy.

Bài tập

Học tiếng - Tham - nhiều - khuya - trưa - điều độ.
Đặt câu - Không nên ăn.... - không nên ngủ.....không nên thức ..... - không nên dậy ..... - Ăn ngủ phải cho có ....mới khỏe mạnh.
Thân thể phải năng vận động

30. LÀM RUỘNG PHẢI MÙA (ca dao)
(Bài học thuộc lòng)

Mồng tám tháng tư không mưa,
Bỏ cả cày bừa mà lấp lúa đi
Bao giờ cho đến tháng mười,
Lúa tốt bời bời, nhà đủ người no.

Giải nghĩa
Mồng tám tháng tư = kỳ lúa trổ đòng đòng, nếu không mưa thì hoa lúa không tốt được.
Lấp = chính nghĩa đen là lấy đất đổ đè lên trên; đây thì ý nói: bỏ đi, vứt đi.
Đến tháng mười = kỳ lúa chín gặt được đem về nhà. Ý nói nghề làm ruộng bao giờ gặt lúa về nhà mới chắc.
Bời bời = nhiều bề bộn.

Bài tập

Câu hỏi - Cày bừa để làm gì? Làm ruộng mà trời không mưa thì thế nào? Thế nào gọi là nhà đủ người no?
Lúa tốt bời bời nhà đủ người no

31. CÔNG VIỆC NGOÀI ĐỒNG
Hằng ngày tôi đi học, phải qua một cánh đồng rộng.
Tôi thường thấy: đàn ông thì cày bừa, đàn bà thì đập đất, trẻ con thì chăn trâu, chăn bò. Lúc trời làm khô cạn, thì tôi thấy nào là người khai ngòi, đắp bờ, nào là người tưới cây, tát nước. Lúc nào ngoài đồng cũng có người làm, trông thật là vui vẻ.

Giải nghĩa
Hằng ngày = ngày nào cũng thế.
Khô cạn = cạn hết cả nước.
Khai ngòi = cuốc đất làm rãnh cho nước chảy.
Đắp bờ = be đất cao lên để giữ nước.

Bài tập

Học tiếng - Tát nước - đắp bờ - cánh đồng - cày - đập - chăn.
Đặt câu - Muốn sang làng bên kia, phải đi qua .....này (nầy).- Cha tôi.....ruộng, mẹ tôi.....đất. - Em tôi.....bò.- Khi ruộng khô ráo thì phải ..... vào. - Muốn giữ lấy nước ở ruộng thì phải.....
Nhiều người làm việc ở ngoài đồng

32. CON GÀ SỐNG (TRỐNG)
Ở nhà quê, nhà nào cũng nuôi một đàn gà (bầy gà) năm bảy con. Trong một đàn gà như thế, ít ra cũng có một con gà sống (trống).
Con gà sống (trống) trông ra mạnh mẽ, oai vệ hơn cả. Mào(1) đỏ và cao, đuôi dài, chân to và có cựa sắc. Khi nó ăn một mình thì xem ra bộ dịu dàng êm ái. Bới(2) đất tìm đuợc cái gì, thì hay gọi những gà mái lại ăn. Nhưng khi nào có con khác đến, thì hung hăng đuổi đánh. Có khi đá nhau cả ngày, trụi cả lông trầy cả cổ mà không thôi. Thật là một giống bạo dạn không sợ kẻ khỏe.
___
(1) mồng. - (2) bươi.

Giải nghĩa
Oai vệ = ra dáng hách, trông đáng sợ.
Cựa sắc = cái móng nhọn ở sau chân con gà.
Hung hăng = dáng bộ dữ tợn.

Bài tập

Học tiếng - Oai vệ - trụi - dịu dàng - ít ra - trầy.
Đặt câu - Con gà này đem bán ....cũng được bốn hào (giác). Con gà mái trông bao giờ cũng......hơn gà sống. - Hai con gà đánh nhau ...... cả lông....- Nó ngã trượt.....da ra. Con gà sống trông ......lắm.
Gà trống trông mạnh mẽ oai vệ

33. PHẢI SẠCH SẼ
Một cậu bé đầu bù tóc rối, mặt mũi nhem nhuốc(1), tay chân dơ bẩn. Có người bảo: "Học trò sao mà dơ bẩn thế?"__ Cậu bé đáp lại rằng: "Học giỏi thì hơn, ở sạch ích gì?"__Người kia cầm lấy tay cậu bé, thong thả mà bảo rằng: "Người ta trước hết phải sạch sẽ, thì mới được khỏe mạnh. Có khỏe mạnh thì trong mình mới được khoan khoái, muốn học tập. Nếu ăn ở dơ bẩn thì hay sinh ra bệnh tật nay đau mai ốm, còn thiết gì đến việc học nữa." _Cậu bé nghe nói, cúi đầu xuống, biết là lời nói phải.
___
(1) lem luốc.

Giải nghĩa
Đầu bù tóc rối = tóc để không chải chuốt gọn gàng.
Nhem nhuốc = nhọ, bẩn, không rửa ráy cho sạch.
Khoan khoái = sung sướng, dễ chịu.

Bài tập

Học tiếng - Dơ bẩn - nhem nhuốc - đầu bù tóc rối - nay đau mai ốm.
Đặt câu - Một đứa học trò.....là đứa lười biếng.- Anh Giáp cứ.....thì học làm sao được.- Anh kia mặt mũi.... đi học phải thầy mắng. - Người nào....thì trông gớm ghê, không ai muốn đứng gần.
Có sạch mới khỏe mạnh

34. CÂY TRE
Ở nước ta có cây tre là nhiều hơn cả. Làng nào, xóm nào cũng có tre trồng ở bờ rào, bờ lũy. Cây tre có ích cho người ta lắm. Lá thì để cho bò cho ngựa ăn; cành (nhành) thì làm rào, làm giạu; cây già thì làm cột nhà, kèo nhà; cây non thì làm dây, làm lạt; măng thì làm đồ ăn; rễ thì làm bàn chải để giặt quần áo. Một thứ cây mà có ích cho người ta như thế, thì thật là quí lắm.

Giải nghĩa
Giạu = hàng rào bằng tre, hay bằng nứa.
Lạt = dây ngắn làm bằng tre non chẻ mỏng.
Măng = mầm tre mới mọc.
Bàn chải = đồ làm bằng một miếng gỗ cắm rễ tre xén bằng nhau để khi giặt quần áo thì chải cho sạch. 

Bài tập

Học tiếng - Bờ lũy - cột - kèo - bàn chải.
Đặt câu - Làm nhà phải có.....thì nhà mới vững. - Những cái....làm bằng tre không được bền. - Người ta hay dùng....để giặt quần áo. Làng nào cũng có .....
Tre là một loài cây có ích

35. CHIM HOÀNG ANH
Trong các thứ chim, có chim hoàng anh, ai cũng cho là đẹp. Mình vàng, mỏ đỏ, chân đen, tiếng hót véo von, nghe vui tai lắm. Hằng nămđến vụ tháng hai tháng ba, và tháng tám tháng chín, giống chim ấy hay đi từng đàn bốn năm con, ăn sâu bọ ở những cây cối nhà quê. Ấy là một loài chim có ích cho sự trồng trọt.

Giải nghĩa
Véo von = giọng cao mà nghe hay.
Hằng năm = năm nào cũng thế.
Trồng trọt = nói chung cả các công việc của nhà làm vườn và làm ruộng màu.

Bài tập

Học tiếng - Mỏ - vụ - sâu bọ - đi từng đàn - cây cối.
Đặt câu - Ở Bắc kỳ mỗi năm có hai ..... gặt. Mồm con chim gọi là.....- Giống chim sẻ hay đi .....- Năm nay có lắm ....ăn hại lá cây. Trời có mưa thì ..... mới tốt.
Đừng hại những loài chim có ích

36. HỌC HÀNH PHẢI SIÊNG NĂNG
(Bài học thuộc lòng)

Nhỏ còn thơ dại biết chi,
Lớn rồi đi học, học thì phải siêng.
Theo đòi cũng thể bút nghiên,
Thua em kém chị cũng nên hổ mình.

Giải nghĩa
Thơ dại = ít tuổi chưa biết gì.
Biết chi = chưa hiểu gì.
Siêng = chăm học, chăm làm.
Bút nghiên = bút là cái để viết, nghiên là cái để mài mực; đây bút nghiên là nói về sự học hành.
Hổ = cũng nghĩa như tiếng thẹn.

Bài tập

Học tiếng - Siêng - biết - đi học - hổ mình.
Đặt câu - Lúc còn bé tôi chưa .....gì. Nay tôi lớn rồi, tôi.....Trẻ con đi học phải.....- Học dốt không bằng ai cũng nên.....
Câu hỏi - Trẻ con bé dại thì thế nào? Trẻ đã lớn rồi thì làm gì? Biếng học thì thế nào?
Trẻ con phải siêng học

37. CHÁU PHẢI KÍNH MẾN ÔNG BÀ
Cha mẹ mình nuôi mình khó nhọc những thế nào, thì ông bà mình khi trước nuôi cha mẹ mình cũng khó nhọc như vậy. Vả lại lúc mình còn bé, chẳng những cha mẹ phải nâng niu trông nom mình mà thôi, ông bà cũng nhiều khi vì mình mà phải khó nhọc.
Ông bà yêu cháu chẳng khác gì cha mẹ yêu con. Vậy mình là cháu, nên phải kính mến ông bà, cũng như kính mến cha mẹ, thì mới phải đạo.

Giải nghĩa
Ông bà = người sinh ra cha hoặc sinh ra mẹ.
Nâng niu = vỗ về, ôm ấp.
Phải đạo = hợp lẽ, hết bổn phận mình.

Bài tập

Học tiếng - Nuôi - khó nhọc - kính mến - ông bà.
Đặt câu - Phải biết cha mẹ..... mình khó nhọc lắm. - Cháu phải......ông bà cũng như cha mẹ. - Khi trước .....mình nuôi cha mẹ mình cũng ..... như cha mẹ mình nuôi mình.
Cháu phải kính mến ông bà

38. CÂY TO BÓNG MÁT
Ở trước đình làng ta có một khu đất rộng có những cây đa(1), cây đề (bồ đề). Nhiều cây to đến hai người ôm không xuể (phỉ). Những cây ấy cành (nhành) tỏa ra và lá rậm um sùm. Các thứ chim thường hay bay đến tụ hội ỏ đó. Thật là một chổ vui và mát nhất trong làng. Bởi thế cứ chiều mát, trẻ đi học về, rủ nhau ra nghỉ ngơi chơi đùa ở đây cho giải trí.
___
(1) cây da.

Giải nghĩa
Ôm không xuể = ôm không vừa.
Tỏa = chìa ra ngoài.
Um sùm = rậm rạp, nhiều lá, nhiều cành.
Tụ hội = họp lại, nhóm lại. 

Bài tập

Học tiếng - Vui thú - giải trí - xuể - khu đất.
Đặt câu - Trước nhà tràng ta có một .....để lúc nghỉ học, học trò ra chơi. - Học rồi thì phải chơi cho.....- Cái cột này to quá, tôi ôm không......- Ngồi chỗ có cây mát mẻ, nghe tiếng chim hót véo von, thật là .....lắm.
Cây to bóng mát chim hót véo von

39. THỜ MẸ KÍNH CHA
(Bài học thuộc lòng)

Công cha như núi Thái sơn, 
Công mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Giải nghĩa
Thái sơn = tên một trái núi to ở bên Tàu, người ta thường dùng để ví với cái gì to lớn.
Như nước trong nguồn chảy ra = ý nói nhiều không bao giờ hết.
Thờ = yêu mến, kính trọng.
Cho tròn = vẹn toàn, đầy đủ. 
Chữ hiếu = con biết giữ bổn phận đối với cha mẹ thì gọi là hiếu.
Đạo con = bổn phận kẻ làm con.

Bài tập

Học tiếng - Núi - nguồn - hiếu - đạo con.
Câu hỏi - Trong bài ví công cha như gì? Công mẹ như gì? Tại làm sao con phải thờ mẹ kính cha? Đạo làm con đối với cha mẹ phải thế nào?
Một lòng thờ mẹ kính cha

40. ĐỪNG ĐỂ MÓNG TAY
Các anh đừng tưởng để móng tay dài là đẹp. Này (nầy) các anh thử coi mười đầu ngón tay thằng Ba xem! Ghét(1) nó đóng đen lại trông rất bẩn. Đã bẩn(2) lại còn vướng nữa. Vì làm ăn mà để móng tay dài thì khó chịu. Nên các anh hãy nghe tôi, các anh đừng để móng tay dài làm gì. Hể nó dài, thì nên lấy kéo cắt ngắn đi.
___
(1) đất. - (2) dơ.

Giải nghĩa
Vướng = lúng túng khó làm.

Bài tập

Học tiếng - Ngón tay - cắt.
Đặt câu - Mỗi bàn tay có năm .....- Hễ móng tay dài thì .....ngay đi.
Không nên để móng tay dài

41. CHỚ NHỔ BẬY BẠ
Tài ngồi trong lớp cứ hay nhổ vặt. Một bận bà giáo bắt được, bảo Tài rằng: "Con chớ nên nhổ bậy trong lớp như thế mà bẩn(1) lắm. Ở nhà cũng vậy, chớ nên bắt chước những bà ăn trầu toe toét, bạ đâu nhổ đấy. Hòn gạch, chân tường, không phải là ống nhổ. Nhổ bậy như thế, chẳng những là bẩn(1), khi nào trong đờm dãi có vi trùng thì lại còn nguy hiểm cho người khác nữa".
___
(1) dơ.

Giải nghĩa
Ăn trầu toe toét = quết trầu dây ra môi ra mép.
Vi trùng = vật nhỏ mắt không trông thấy. 
Nguy hiểm = có thể hại đến sức khỏe, đến đời người.

Bài tập

Học tiếng - Nhổ bậy - ống nhổ - bẩn - nguy hiểm.
Đặt câu - Ta không nên.....xuống đất bao giờ.- Vì nhổ thế chẳng những là.....mà lại có khi.....nữa. -Ta nên nhổ vào những.....
Không nên nhổ bậy xuống đất

42. VIỆC CÀY CẤY
(Bài học thuộc lòng)

Rủ nhau đi cấy, đi cày,
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu.
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.

Giải nghĩa
Phong lưu = đủ ăn đủ tiêu.
Đồng cạn = đồng đất cao, không có nước.
Đồng sâu = đồng đất thấp, thường hay có nước.

Bài tập

Câu hỏi - Người ta cấy lúa ở đâu? Người ta cày bằng gì? Cái cày và cái bừa khác nhau thế nào? Trong bài nói ai cày ai cấy? - Con trâu làm gì?
Rủ nhau đi cấy đi cày

43. QUYỂN GIA PHẢ (GIA PHỔ)
Hôm nọ nhà có giỗ, tôi thấy cha tôi lấy một quyển sách ở tủ ra xem. Tôi hỏi: Cha xem sách gì đây? _ Cha xem quyển gia phả. _Gia phả là gì? _Gia phả là quyển sách để chép rõ tên tuổi, đức hạnh và công trạng của tổ tiên. _ Vậy hôm nay cha xem để làm gì?_ Xem cho biết danh hiệu của ông để mà khấn, vì ngày mai là ngày giỗ của ông.

Giải nghĩa
Giỗ = ngày kị, là ngày cụ tổ đã mất đi.
Tổ tiên = các cụ đời xưa. 
Khấn = quì trước bàn thờ mà lẩm nhẩm xin chứng minh cho.

Bài tập

Học tiếng - Chép - danh hiệu - gia phả - tủ.
Đặt câu - Cất quyển sách vào.....- Trong quyển .....có.....cả công trạng của tổ tiên. - Xem gia phả thì biết rõ .....các cụ.
Quyển gia phả của nhà tôi

44. CÁI ĐỒNG HỒ CỦA ANH TÔI
Anh tôi có một cái đồng hồ quả(1) quít vỏ bạc. Trông qua mặt kính (gương), tôi thấy trên mặt đồng hồ có những chữ số chỉ giờ và những vạch nhỏ chỉ phút. Hai cái(2) kim chạy vòng tròn. Kim dài chỉ phút, kim ngắn chỉ giờ. Tôi để cái đồng hồ vào tai nghe tiếng tích tắc, tích tắc, máy chạy thật đều.
___
(1) trái. - (2) cây.

Giải nghĩa 
Đồng hồ quả quít = gọi thế là vì đồng hồ nhỏ và tròn như quả quít.
Tích tắc = tiếng đồng hồ chạy.

Bài tập

Học tiếng - Đồng hồ quả quít - vỏ - mặt đồng hồ - mặt kính - giờ - phút - kim - tích tắc.
Câu hỏi - Cái đồng hồ của anh anh bằng gì? Trên mặt đồng hồ anh trông thấy gì? Để đồng hồ vào tai, anh nghe thấy tiếng gì?
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

45. NGÀY GIỜ
Sáu mươi dây là một phút. Sáu mươi phút là một giờ. Một ngày có hai mươi bốn giờ. Một tuần lễ có bảy ngày là: chủ(1) nhật, thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy.
Một năm có mười hai tháng là: tháng giêng, tháng hai, tháng ba… đếm mãi cho đến tháng một, tháng chạp. Tháng tây có ba mươi, hay ba mươi mốt ngày. Tháng ta có hai mươi chín hay ba mươi ngày.
___
(1) chúa.

Giải nghĩa
Tháng giêng = tháng đầu năm.
Tháng một = tháng thứ mười một
Tháng chạp = tháng thứ mười hai trong một năm.

Bài tập

Học tiếng - Dây - phút - giờ - ngày - tuần lễ - tháng - năm - chủ nhật - tháng giêng - tháng một - tháng chạp.
Câu hỏi - Một giờ có bao nhiêu phút? Một phút bao nhiêu giây? Một ngày có bao nhiêu giờ? Một tuần lễ có mấy ngày? Là những ngày nào? Một năm có bao nhiêu tháng? Là những tháng nào? Tháng tây bao nhiêu ngày? Tháng ta bao nhiêu ngày?
Thời giờ thắm thoắt thoi đưa

46. CẦU MƯA
(Bài học thuộc lòng)

Lạy Trời mưa xuống!
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơm.
Lấy rơm đun(1) bếp.
___
(1) chụm.

Giải nghĩa
Cầu mưa = xin trời cho mưa.
Lấy ruộng tôi cày = ý nói có nước để cày ruộng.
Rơm = ngọn cây lúa gặt về đã đập hết hột rồi.

Bài tập

Học tiếng - Đun - thổi cơm - cày - uống - mưa. 
Đặt câu - Người ta cầu trời.....- Có mưa thì mới có nước mà ..... có nước mà ..... ruộng. - Ruộng cày cấy thì mới có gạo mà.... có rơm mà..... bếp.
Trời mưa có nước mà làm ruộng

47. CON CÓC
Hễ đến chều tối thì cóc hay nhảy ra đường, ra sân để kiếm ăn. Hình con cóc thật là xấu: mồm rộng, bụng to, mắt lồi, da lưng xùi lên(1)từng cục. Tuy thế, nhưng nó không độc, mà lại là giống có ích. Nó ăn những con sên, con giun (trùn) là giống hay phá hại những rễ cây và lá cây của người ta giồng (trồng). Vì thế cho nên nó nhảy đâu mặc nó, không ai đánh đập nó bao giờ.
___
(1) nổi lên.

Giải nghĩa
Xùi lên = mọc nổi trên mặt da.
Độc = có nọc có thể hại người được. 

Bài tập

Câu hỏi - Con cóc thường hay ở đâu? Tại làm sao anh cho con cóc là xấu? Con cóc có ích thế nào?
Con cóc là giống có ích

48. CHIM CHÈO BẺO
Có một thứ chim ta thường hay thấy ở ngoài đồng, là chim chèo bẻo. Mình nó nhỏ, lông nó đen, đuôi dài và xoè ra như đuôi cá, mỏ hơi quắm lại và sắc. Nó hay ăn những giống côn trùng bay ở trên trời như chuồn chuồn, châu chấu.
Nó tuy nhỏ, nhưng bạo dạn lắm. Một đôi khi ta trông thấy nó đuổi đánh những con chim to và mạnh hơn nó, như quạ và diều hâu(1) . Thế mà những chim khác không con nào dám đánh nó.
___
(1) dều.

Giải nghĩa
Côn trùng = tiếng nói chung tất cả các thứ sâu bọ, hoặc có cánh, hoặc không có cánh, như chuồn chuồn, bươm bướm, sâu róm, v.v...
Chuồn chuồn = một thứ côn trùng có bốn cánh xoè ra.
Châu chấu = một thứ côn trùng có cánh để bay và có càng để nhảy.
Diều hâu = một thứ chim dữ hay lượn ở trên trời, để bất thình lình sa xuống bắt gà con hay các chim nhỏ khác mà ăn.

Bài tập

Học tiếng - Quắm lại - xoè - bạo dạn - sắc.
Đặt câu - Con chim bay thường hay ....đuôi ra. Những con chim dữ có cái mỏ..... - Dao.....thì cắt gì cũng đứt.- Thấy sự nguy hiểm mà không sợ hãi là người......
Chim chèo bẻo đánh cả diều hâu

49. THƯƠNG YÊU KẺ TÔI TỚ
(Bài học thuộc lòng)

Kẻ ăn người ở trong nhà, 
Sớm khuya công việc giúp ta nhọc nhằn.
Thương người đày đọa chút thân,
Chớ nên ngược đãi, lòng nhân mới là.

Giải nghĩa
Kẻ ăn người ở = những người tôi tớ.
Sớm khuya = cả ngày cả đêm.
Đày đọa = phải đem mình làm tôi tới người ta.
Ngược đãi = xử tệ, nghiệt ác.
Lòng nhân mới là = nói xuôi là: "mới là lòng nhân", nghĩa là lòng tử tế thương người.

Bài tập

Học tiếng - Thương - giúp - tôi tớ - lòng nhân.
Đặt câu - Ta chớ nên nghiệt ác với kẻ.....- Xin anh..... tôi việc ấy. - Cha tôi hay .....kẻ yếu hèn. - Bà tôi có.....không xử tệ với người ở bao giờ.
Câu hỏi - Sao ta phải thương yêu kẻ tôi tớ? Thế nào gọi là người có lòng nhân? Làm sao kẻ ăn người ở với mình lại gọi là người phải đày đọa?
Thương yêu kẻ tôi tớ

50. KHÔNG NÊN TẮM RỬA NƯỚC BẨN (nhớp)
Muốn giữ mình cho sạch sẽ thì phải tắm rửa luôn. Nhưng ta phải biết rằng tắm rửa bằng nước bẩn, thì cũng hại như ở bẩn.
Ở nhà quê, nước ao thường bẩn lắm. Giặt quần, giặt áo, vo gạo, rửa rau, làm thịt gà, thịt vịt, cái gì cũng đem ra ao. Lại có những cóc, nhái, rắn, rết(1), chết thối ở trong ao, mà nước thì không chảy đi đâu được. Thế mà ta cứ ra đấy tắm rửa thì làm gì chẳng sinh ra đau mắt, đau tai, lở láy(2), bệnh tật. Vậy ta nên tắm rửa bằng nước sông, nước giếng, chứ đừng tắm rửa bằng nước ao.
___
(1) rít. - (2) lở lói.

Giải nghĩa
Vo gạo = rửa gạo cho sạch đất, sạch cám, trước khi bỏ vào nồi nấu cơm.
Nhái = vật thuộc về loài cóc, mình dài và nhỏ, da hơi nhơn nhớt mà không xùi ra như da cóc.

Bài tập

Câu hỏi - Tắm rửa bằng nước bẩn thì thế nào? Tại làm sao mà nước ao lại bẩn? Tắm rửa bằng nước ao thì hay sinh ra những bệnh tật gì?
Không nên tắm rửa bằng nước ao

51. ĐÓI CHO SẠCH RÁCH CHO THƠM
Người ta ăn mặc bao giờ cũng phải cho sạch sẽ. Quần áo cần phải giặt gỵa luôn. Mình mẩy dẫu có tắm rửa sạch sẽ, mà quần áo dơ bẩn, thì cũng hôi hám, không ai ưa. Người ta chỉ đói cơm đói gạo, nghèo tiền nghèo bạc, chớ không ai đói nuớc, nghèo nuớc bao giờ. Chỉ có lười biếng(1) mới ăn mặc dơ bẩn mà thôi. Ta phải nhớ câu: "Đói cho sạch, rách cho thơm".
___ 
(1) làm biếng.

Giải nghĩa
Hôi hám = mùi khó ngửi.
Đói nuớc, nghèo nuớc = ý nói ít nước không có đủ dùng.

Bài tập

Câu hỏi - Áo quần không giặt gỵa thì thế nào? Người để áo quần bẩn mà mặc là người thế nào?
Đói cho sạch, rách cho thơm

52. CON TRÂU VỚI NGƯỜI ĐI CÀY
(Bài học thuộc lòng)

Trâu ơi! ta bảo trâu này:
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cấy cày vốn nghiệp nông gia,
Ta đây, trâu đấy ai mà quản công?
Bao giờ cây lúa còn bông, 
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Giải nghĩa
Nghiệp nông gia = công việc của nhà làm ruộng.
Quản công = ý nói làm ăn khó nhọc mà không ngại.

Bài tập

Học tiếng - Trâu - trâu cày - nghé - chăn trâu - chuồng trâu.
Đặt câu - Cày những ruộng sâu thế nào cũng phải có..... Thứ trâu cày ruộng gọi là.... - Con trâu con gọi là con .....- Chỗ nuôi trâu gọi là.....- ..... là đem nó ra ngoài đồng cho nó ăn cỏ.
Câu hỏi - Trong bài người ta bảo con trâu đi làm gì?- Nhà làm ruộng cốt làm những công việc gì? Người ta bảo con trâu được ăn làm sao?
Nuôi trâu để cày ruộng

53. THAM THỰC CỰC THÂN
Sáng ngày mồng năm tháng năm, một nhà kia mua bánh trái để cho trẻ giết sâu bọ. Lũ trẻ tranh nhau ăn nhiều quá. Chẳng dè đến trưa, đứa thì kêu đau bụng, đứa thì kêu nhức đầu. Bà, mẹ vội vàng lấy dầu xoa(1) và lấy thuốc cho uống. Đoạn, bà gọi cả mấy đứa lại mà bảo rằng: Chúng bay hư quá. Ăn cái gì phải có điều độ chớ sao lại tham ăn đến nỗi đau bụng nhức đầu như thế. Có phải là tham thực cực thânkhông? Từ rày phải chừa đi mới được.
___
(1) thoa.

Giải nghĩa
Tham thực cực thân = tham ăn thì khổ đến thân.
Bánh trái = nói chung cả các thứ bánh và hoa quả.
Giết sâu bọ = người ta tưởng rằng sáng hôm mồng năm tháng năm ăn hoa quả thì trừ được sâu bọ ở trong bụng.
Đoạn = xong rồi.
Điều độ = chừng mực vừa phải.
Chừa = không làm như thế nữa.

Bài tập

Học tiếng - Chẳng dè - bệnh tật - lấy dầu xoa - tranh nhau.
Đặt câu - Tôi chơi tử tế với nó.....nó lại đánh tôi. - Anh ấy nhức đầu, mẹ anh ấy.....- Ba cậu học trò.....một ngòi bút đứt cả tay. - Ăn uống có chừng mực thì không hay sinh ra.....
Tham thực cực thân

54. CẢ NHÀ AI CŨNG CÓ CÔNG VIỆC
Cha tôi và anh tôi cày cuốc ở ngoài đồng. Mẹ tôi buôn bán ở ngoài chợ. Chị tôi ở nhà thì quét tước dọn dẹp trông nom(1) bếp núc, may vá quần áo. Vậy cả nhà tôi, ai cũng có công việc. Duy có tôi còn bé, chưa làm được việc gì. Nhưng ngày ngày tôi cắp sách đi học. Bây giờ tôi cố học tập để ngày sau lớn lên, tôi cũng làm được việc mà giúp đỡ mọi người. 
___
(1) coi.

Giải nghĩa
Bếp núc = núc: đầu rau; bếp núc là tiếng chỉ chỗ đun nấu. Nói bếp nước là sai.
Duy có = chỉ có một mình tôi.

Bài tập

Học tiếng - Quét tước - dọn dẹp - may vá - giúp đỡ mọi người. 
Câu hỏi - Cha anh và anh anh làm gì? Mẹ anh làm gì? Chị anh làm gì? Còn anh làm gì?
Người ta ai cũng có công việc

55. CÁNH ĐỒNG NHÀ QUÊ
Cánh đồng nhà quê thì đâu đâu cũng giống nhau, không mấy nơi có phong cảnh lạ. Nhưng nhìn cho kỹ, thì cũng có vẻ đẹp. Nhất là vào khoảng mùa xuân, ra ngoài đồng, trông thấy màu lúa xanh biếc ngọn gió lướt qua coi như sóng dợn. Thỉnh thoảng lại có con cò, con diệc bay chỗ này (nầy) qua chỗ khác, trông thật là vui mắt.

Giải nghĩa
Phong cảnh = nơi có vẻ đẹp đẽ vui thú.
Xanh biếc = mùi xanh sẩm và bóng nhoáng.
Thỉnh thoảng = từng lúc một, chốc chốc lại có. 

Bài tập

Học tiếng - Vẻ đẹp - lướt - khoảng - mùa xuân - lóng lánh.
Đặt câu - Vào..... tháng năm ta thì học trò được nghỉ hè. - Trông cảnh chùa làng ta có.....Ở nước ta.....vào độ thàng giêng tháng hai.- Lúc gió hiu hiu thì ngọn lúa hơi....
Gió lướt trên mặt lúa

QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ


Quốc Văn Giáo Khoa Thư
Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Đồng Ấu
Trong thread Cổ Học Tinh Hoa, tôi có nói vắn tắc đến tính chất giáo dục ... "học làm người" của bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư (QVGKT). Hôm nay, xin mời các bác đọc trực tiếp trọn bộ QVGKT, để các bác tự mình thấy rõ đặc tính nổi trội của các bài "học làm người" dành cho các tâm hồn trẻ thơ ở tuổi mới cắp sách đến trường của bộ sách này. 
Trước khi nói đến bộ sách QVGKT, xin nói qua về một số vấn đề có lên quan đến bộ sách này.
I. Hệ thống giáo dục công cộng ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc trước 1945:
Lớp Năm tức lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin) với các học sinh khoảng 7 tuổi.
Lớp Tư tức lớp Dự Bị (Cours Préparatoire) với các học sinh khoảng 8 tuổi.
Lớp Ba tức lớp Sơ Đẳng (Cours Élémentaire) với các học sinh khoảng 9 tuổi.
Thi bằng Sơ Học Yếu Lược (Certificat d’Études Élémentaire). 
Nếu đậu thì thi “Concours, hay thi tuyển, lên lớp Nhì”.
Nếu đậu thì được học tiếp 3 năm cấp Tiểu học:
Lớp Nhì Nhất Niên (Cours Moyen Première Année) với các học sinh khoảng 10 tuổi.
Lớp Nhì Nhị Niên (Cours Moyen Deuxième Année) với các học sinh khoảng 11 tuổi.
Lớp Nhất (Cours Supérieur) với các học sinh khoảng 12 tuổi.
Thi bằng Tiểu Học Cụ Thể (Certificat d’Études Primaire Supérieure).
Nếu đậu thì thi “Concours, hay thi tuyển, vào Đệ Thất”.
Nếu đậu thì học Trung học Phổ Thông (hay Trung học Đệ Nhất Cấp) 4 năm. (Đệ Thất - Đệ Tứ) với các học sinh khoảng 13-16 tuổi.
Thi bằng Trung Học Phổ Thông (hay còn gọi là bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp).
Nếu đậu thì thi “Concours vào Đệ Tam”.
Nếu đậu thì học tiếp 2 năm cấp Chuyên Khoa (Đệ Tam, Đệ Nhị) với các học sinh khoảng 17-18 tuổi.
Thi bằng Tú Tài Một.
Nếu đậu thì học lớp Đệ Nhất, và cuối năm lớp Đệ Nhất thì được dự thi bằng 
Tú Tài Toàn Phần (tức Tú Tài II) với các học sinh khoảng 19 tuổi.
Xin xem tài liệu tham khảo (7).



I. Các bộ giáo khoa của nhóm Trần Trọng Kim 
Các bộ sách giáo khoa của Trần Trọng Kim và các cọng sự dùng cho ba lớp Đồng ấu, Dự bị và Sơ đẳng gồm:
• Sử Ký Địa Dư Giáo Khoa Thư (Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng).
• Luân Lý Giáo Khoa Thư (Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng).
• Quốc Văn Giáo Khoa Thư (Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng).
A. Bộ Sử Ký Địa Dư Giáo Khoa Thư
Sách này do hai ông Trần Trọng Kim và Đặng Đình Phúc biên soạn. Để các bác có vài ý niệm đại cương về nội dung bộ sách này, xin giới thiệu vài nét về 1 trong 3 cuốn trong bộ Sử Ký Địa Dư Giáo Khoa Thư: cuốn dành cho lớp Sơ đẳng. 
Về sử ký, sách dành cho lớp Sơ đẳng này được chia làm 6 chương: 
Chương một: Thượng cổ thời đại nói về nguồn gốc dân tộc, sự tích Lạc Long Quân, Âu Cơ; 18 đời vua Hùng…
Chương hai: Bắc thuộc thời đại, với những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc: lần thứ nhất kết thúc bằng cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng; lần thứ hai kết thúc với cuộc giành độc lập của Lý Bôn thành lập nhà Tiền Lý; Bắc thuộc lần thứ ba kết thúc bằng sự dấy nghiệp của Khúc Thừa Dụ.
Chương ba: chấm dứt ba lần Bắc thuộc hơn nghìn năm mở đầu cho “tự chủ thời đại” với các võ công văn trị của các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê.
Chương bốn có tiêu đề “Nam Bắc phân tranh thời đại” với những cuộc nội chiến liên miên giữa Trịnh – Mạc rồi Trịnh – Nguyễn và cuối cùng là khởi nghĩa Tây Sơn, chấm dứt một thời gian dài nội chiến và chia cắt.
Chương năm là đề mục của Thống nhất thời đại vưói các triều Gia Long, Minh Mạng, Triệu Trị và các sự biến loạn dưới triều Tự Đức.
Chương sáu “Người Pháp sang bên ta” với các hoà ước 1862, 1855 rồi “Các công cuộc người Pháp làm ở nước Nam” như “dẹp loạn” (người Pháp còn dùng từ “bình định”), xếp đặt việc cai trị, xây dựng kinh tế, mở mang y tế và học hành…
Đó là về sử ký, còn về địa dư, cuốn sách trình bày các vấn đề địa lý của năm xứ Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Ai Lao (Lào) và Cao Miên (Campuchia).
(Phần tóm lượt này được trích dẩn từ bài viết ở tài liệu tham khảo (9)).
B. Bộ Luân Lý Giáo Khoa Thư (LLGKT)
Sách này do bốn tác giả Trần Trọng Kim Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn. Sau đây là các chương của 2 trong 3 quyển trong bộ LLGKT:
LLGKT - Lớp Đồng ấu: ba chương, 50 bài.
1. Bổn phận đối với gia tộc; 
2. Bổn phận đối với học đường; 
3. Học trò tốt, Học trò tốt xấu; 
Các bác muốn xem trọn bộ 50 bài (không có hình minh họa) theo ấn bản năm 1939 của Nha học chính Đông Pháp, xin vào đây:
LLGKT - Lớp Sơ đẳng: bốn chương chính, 52 bài: 
1. Bổn phận đối với gia tộc; 
2. Bổn phận đối với học đường; 
3. Bổn phận đối với bản thân; 
4. Bổn phận đối với xã hội.
Ngoài 4 chương còn có phụ lục về phong tục, đơn từ, thư khế.
Các bác muốn xem 38 bài trong 52 bài theo ấn bản năm 1941 của Nha học chính Đông Pháp, xin vào đây:
Tuy nhiên nói đến sách giáo khoa sơ học của Trần Trọng Kim thì Quốc văn giáo khoa thư ba lớp Đồng ấu, Dự bị và Sở đẳng được người ta chú ý hơn cả. 
III. Bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư
Sách này do bốn tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn và Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ vẽ. 
Bản in cũ nhất của bộ QVGKT mà tôi mượn được ở thư viện liên kết giữa Đại học San Jose State và Thành phố San Jose là ấn bản in năm 1935 với lời chú thích trên trang trong của sách Quốc Văn lớp Đồng Ấu là “In lần thứ tám” và trong sách Quốc Văn lớp Dự Bị là “In lần thứ mười”. Theo Hoàng Văn Lộc, được nói đến trong tài liệu tham khảo (7), thì bộ sách giáo khoa nầy đã được in vào khoảng năm 1923.
“Vậy là từ năm 1923 cho đến năm 1948, cả thảy là 25 năm dài ròng rã, các sách giáo khoa thư nầy đã được dùng để dạy dỗ các trẻ em Việt Nam khi mới bước chân đến trường”.(7)
Với QVGKT - Lớp Đồng Ấu và QVGKT - Lớp Dự Bị tôi mượn ở thư viện nói trên, thư viện ghi chú như sau: “Reprint. Originally published: Hanoi: Nha Học Chánh Đông Pháp, 1935. Includes reproductions of the t.p. and the cover of the 1935 edition”. Xin dịch sang tiếng Việt: “Bản in lại. Gốc xuất bản: Hà Nội: Nha Học Chánh Đông Pháp, 1935. Bao gồm các bản sao chép của các trang ghi tựa sách, tác giả và nhà xuất bản và trang bìa của ấn bản 1935”. 
Với QVGKT - Lớp Sơ Đẳng, thư viện ghi chú như sau: “Reprint. Originally published: Hanoi: Rectorat de l'Université Indochine. Includes reproductions of the t.p. and the cover of the Hanoi edition.” Xin dịch sang tiếng Việt: “Bản in lại. Gốc xuất bản: Hà Nội: Nha Học Chánh Đông Pháp (Dương). Bao gồm các bản sao chép của các trang ghi tựa sách, tác giả và nhà xuất bản và trang bìa của ấn bản Hà Nội”. Như vậy, QVGKT - Lớp Sơ Đẳng được in lại từ một ấn phẩm không ghi rõ năm xuất bản.
Ở mục thông tin về ấn phẩm (Publication Information), thư viện ghi như nhau cho cả 3 quyển QVGKT - Lớp Đồng Ấu, QVGKT - Lớp Dự Bị và QVGKT - Lớp Sơ Đẳng:
Publication Information: [S.l. : s.n., 1984?]
Ý nghĩa của các chữ viết tắc trên như sau: 
S.l.= Sine loco; tiếng la tinh của without place: không in nơi xuất bản.
s.n. = sine nomine; tiếng la tinh của without name: không in tên nhà xuất bản.
1984? = (in lại năm) 1984?
Thông tin trên có nghĩa là ấn phẩm mà tôi mượn ở thư viện là một ấn phẩm không thấy ghi nơi xuất bản, cũng không thấy ghi tên nhà xuất bản, được in lại năm 1984 (?).
Như vậy bộ QVGKT mà tôi mượn được ở thư viện không phải là nguyên bản, mà chỉ là bản in lại năm 1984 (?) mà thôi; ai in lại và in lại ở đâu thì chúng ta cũng không biết! 

Hình chụp    Bộ sách QVGKT gồm ba quyển: 

• QVGKT - Lớp Đồng Ấu: có hai phần: phần I dạy chữ cái và đánh vần (34 bài); phần II dạy tập đọc (55 bài).
• QVGKT - Lớp Dự Bị: có 120 bài học. 
• QVGKT - Lớp Sơ Đẳng: có 84 bài học.
Về nội dung của QVGKT, tuy nói là sách “quốc văn” nhưng nội dung đa số chủ yếu không phải là dạy “quốc văn” mà lại là dạy các bài "học làm người" cho các tâm hồn trẻ thơ ở tuổi mới cắp sách đến trường. Đặc tính này xin dành để cho các bác tự mình kiểm nghiệm lấy khi đọc toàn bộ sách QVGKT.
IV. Tiểu sử vắn tắc của các tác giả bộ QVGKT
Các tác giả bộ QVGKT hầu hết đều có vốn Hán học và tốt nghiệp trường Thông Ngôn, tức là trường dạy làm thông dịch viên (Interpreter). 
- Trần Trọng Kim tốt nghiệp trường Thông Ngôn (cùng lớp với Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh); năm 1903, du học Pháp tại trường Sư Phạm Melun. Ðã dạy tại các trường Bảo Hộ, trường Nam Sư Phạm; thanh tra các trường Sơ Học Hà Nội; sáng lập Học báo; trưởng ban Văn Học của Hội Khai Trí Tiến Ðức. Sau khi Nhật đảo chánh Pháp 9-3-45, ông được vua Bảo Ðại mời làm thủ tướng đầu tiên thời Việt Nam Ðộc Lập. Ông mất tại Ðà Lạt năm 1953.
Trước năm 1945, Trần Trọng Kim có nhiều tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ như Việt Nam sử lược (1919), Nho giáo (1930) v.v…
Xin xem thêm về Trần Trọng Kim trong: 
http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%B...E1%BB%8Dng_Kim
- Nguyễn Văn Ngọc tốt nghiệp trường Thông Ngôn. Dạy học ở các trường Tiểu Học Bờ Sông Hà Nội, trường Bưởi, trường Sĩ Hoạn, trường Sư Phạm; thanh tra các trường Sơ Học; phụ trách Tu Thư Cục của Nha Học Chánh. Nguyễn Văn Ngọc có nhiều tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ như Cổ học tinh hoa (1925, cùng Trần Lê Nhân), Tục ngữ phong dao (1928), Truyện cổ nước Nam (1934) v.v…
Xin xem thêm về Nguyễn Văn Ngọc trong:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1...c_gi%E1%BA%A3)
- Ðỗ Thận tốt nghiệp trường Thông Ngôn, phục vụ ở Toà Ðốc Lý Hà Nội; được bổ vào làm ở Học Chính, ban Tu Thư của Phủ Thống Sứ. Uỷ viên hội đồng Thành phố Hà Nội.
- Ðặng Ðình Phúc, hiệu trưởng trường Tiểu Học kiêm bị ở Quảng-Yên (Bắc Việt), giáo viên hạng nhất ngạch bản xứ. 
(Phần tiểu sử vắn tắc này được trích dẩn từ bài viết ở tài liệu tham khảo (8)). 
V. Tình hình xuất bản và đăng trên các websites của bộ QVGKT
Từ đầu thập niên 1990, Quốc Văn Giáo Khoa Thư QVGKT đã được một số nhà xuất bản trong nước tái bản nhiều lần. 
Tháng 3 năm 1993 nhà xuất bản TRẺ tái bản QVGKT gồm 3 phần trong cùng 1 quyển: Quốc văn giáo khoa thư lớp Sơ Đẳng, Quốc văn giáo khoa thư lớp Dự Bị và Luân lý giáo khoa thư lớp Đồng Ấu, theo ấn bản năm 1948 của Nha học chính Đông Pháp. Một phần nội dung của sách này đã đưọc đăng trong:
http://bacbaphi.com.vn/entertainment...-Khoa-Th%C6%AF
Năm 2000 nhà xuất bản Thanh Niên tái bản QVGKT gồm 3 phần trong cùng 1 quyển: QVGKT- Lớp Đồng ấu: 55 bài, QVGKT - Lớp Dự bị: 111 bài và QVGKT - Lớp Sơ đẳng: 82 bài; tổng cộng 248 bài. Một phần nội dung của sách này đã đưọc đăng trong:
http://www.e-thuvien.com/forums/showthread.php?t=16357 
Đến năm 2007 nhà xuất bản TRẺ tái bản QVGKT khoảng 5 lần, nhưng đây là lần đầu tiên, bộ sách được tách làm hai quyển riêng biệt "Quốc văn giáo khoa thư" và "Luân lý giáo khoa thư" “làm sống lại gần y như bản gốc (theo bản in từ năm 1938-1948 của Nha học chính Đông Pháp)” (10). Tôi chưa tận mắt xem thấy hai quyển sách riêng biệt này, nên không rõ nội dung bên trong gồm có những bài gì!

 Năm 2011 nhà xuất bản Văn Học xuất bản “Tuyển Tập Quốc Văn Giáo Khoa Thư” gồm 3 phần trong cùng 1 quyển: Quốc văn giáo khoa thư lớp Sơ Đẳng (83 bài), Quốc văn giáo khoa thư lớp Dự Bị (116 bài) và Luân lý giáo khoa thư lớp Đồng Ấu (50 bài), theo ấn bản năm 1948 của Nha học chính Đông Pháp.
Tình hình các websites đăng bộ QVGKT: ngoài các websites đã nêu ở trên, xin xem thêm các tài liệu tham khảo (5) và (6).
VI. Mục đích khi post Quốc Văn Giáo Khoa Thư
Đối với các bác thuộc thế hệ 1 như tôi, hy vọng các bác có cơ hợi đọc lại toàn bộ QVGKT để nhớ về "thế hệ QVGKT” chúng ta đã được học … làm người như thế nào! 
Đối với các cháu thế hệ thứ 2, nếu các cháu tò mò đọc hết QVGKT, các cháu sẽ có những khái niệm căn bản về những gì thế hệ cha ông của các cháu đã được giáo dục về đạo lý làm người! Các cháu có thể in những bài tập đọc đắc ý để dùng làm tài liệu cho các con của mình học tập đọc và thông qua việc học tập đọc, các con của mình sẽ thấm nhuần những giá trị đạo đức căn bản. Ông bà ta có nói:
Dạy con từ thuở còn thơ;
Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về!
Dạy con từ thuở còn thơ bằng những bài tập đọc từ sách vở (chứ không từ miệng của cha mẹ nói ra) là phương pháp giáo dục hữu hiệu nhất! Một số cháu nhỏ hay xem nhẹ lời dạy bảo của cha mẹ (bụt nhà không thiêng!) nhưng lại dễ tin theo những lời dạy bảo từ sách vở.
Trong Lời Tựa của “Tuyển Tập QVGKT” in năm 2011, NXB Văn Học có viết:
“Hiện nay, với tình trạng bạo lực học đường ngày càng gia tăng; giáo dục luân lý, đạo đức con người không được chú trọng bằng thành tích học tập, chúng tôi thấy cần phải tái bản và phổ biến rộng rãi Quốc Văn Giáo Khoa Thư để các bậc phụ huynh, quý thầy cô cùng các em học sinh tìm đọc và tham khảo”.
VII. Nội dung sẽ được post
Nội dung và thứ tự sẽ được post như sau:
1. QVGKT, lớp Đồng Ấu: các hình quét (scanned images) của toàn bộ quyển sách và bản đánh máy của 55 bài tập đọc, có cả phần bài tập; không có bản đánh máy 34 bài phần dạy chữ cái và đánh vần.
2. QVGKT, lớp Dự Bị: các hình quét của toàn bộ quyển sách và bản đánh máy 120 bài học; không có bản đánh máy phần bài tập.
3. QVGKT, lớp Sơ Đẳng: các hình quét của toàn bộ quyển sách và bản đánh máy 84 bài học; không có bản đánh máy phần bài tập. 
Bộ QVGKT sẽ được post là bộ sách QVGKT do Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản năm 1935.
Mặc dù có một số bài không còn thích hợp với hình hình hiện nay, tôi vẫn post đầy đủ toàn bộ y như nguyên văn vì muốn giữ tính cách lịch sử của bộ sách như nó vốn có khi xuất bản và vì với chủ đích thỏa mãn trí tò mò của một số bạn đọc, nếu có; tò mò không hiểu vì sao một số bài đã bị bỏ đi.
Các bài đã bị bỏ đi vì có nội dung không còn thích hợp với hình hình hiện nay, so với bản in của NXB Văn Học in năm 2011, gồm: 
QVGKT, lớp Dự Bị: 
08. Dân tộc Việt Nam.
12. Nội thuộc nước Tàu.
21. Nhờ có nội thuộc nước Tàu, người nước Nam được những gì?
92. Ông Paul Bert.
QVGKT, lớp Sơ Đẳng: 
09. Người Pháp ở Đông dương.
Ấn bản “Tuyển Tập QVGKT” của NXB Văn Học in năm 2011 không có tập QVGKT, lớp Đồng Ấu (tập này được thay bằng Luân lý Giáo Khoa Thư, lớp Đồng ấu) nên không rõ nếu được in trong “Tuyển Tập QVGKT” có bài nào trong tập QVGKT, lớp Đồng Ấu ấn bản năm 1935, sẽ bị NXB Văn Học loại bỏ không.
Lời kết 
Xin dùng lời phát biểu sau đây của một độc giả trên internet để làm … quảng cáo, hay tiếp thị, cho thớt QVGKT này: “QVGKT là cuốn sách vỡ lòng hay nhất thế giới”: 
http://www.sgtt.com.vn/oldweb/cacsob...achhaynhat.htm
“Hay nhất thế giới”, nên hy vọng các bác sẽ không … quên thớt QVGKT này (!).

San Jose, tháng 10/2011 
Trực Võ 

Tài liệu tham khảo:
1. Tuyển Tập Quốc Văn Giáo Khoa Thư, NXB Văn Học xuất bản năm 2011.
2. Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Đồng Ấu, Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản năm 1935.
3. Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Dự Bị, Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản năm 1935.
4. Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Sơ Đẳng, Nha Học Chính Đông Pháp xuất bản không rõ năm.
5. Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Dự Bị - ấn bản năm 1935, 120 bài; có hình, nhưng không có các phần giải nghĩa & bài tập:
http://vietlist.us/SUB_Hocvan/hocvan.shtml
Website của Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại chỉ đăng QVGKT- Lớp Dự Bị.
6. Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Sơ Đẳng: ấn bản năm 1948, 83 bài:
http://www.gocong.com/forums/forum_p...?TID=4340&PN=1
Website của Hội Thân Hữu Gò Công–Hoa Thịnh Đốn chỉ đăng QVGKT- Lớp Sơ Đẳng.
7. Thế hệ giáo khoa thư - Bác sĩ Bùi Minh Đức:
http://tapchisonghuong.com.vn/index....-giao-khoa-thu
8. Quốc ngữ trong chương trình tiểu học thời Pháp thuộc - GS Nguyễn Phú Phong, Giám đốc nghiên cứu, Trung tâm quốc gia NCKH, Pháp:
http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-...hap-thuoc.html
9. Trần Trọng Kim và bộ sách giáo khoa bậc sơ học - Phan Trọng Báu: 
http://nguoibanduong.net/index.php?n...ticle&sid=5746
10. Tái bản Quốc văn giáo khoa thư:
http://evan.vnexpress.net/News/Tin-t...7/03/3B9AD76C/
11. Học Trò Đối Với Thầy Giáo Xưa Và Nay - Hà thúc Giảng:
http://www.advite.com/hoctrodoivoithaygiaoxuavanay.htm
12. Sau 50 Năm Ðọc Lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư - GS Trần Văn Chi
Bài 1-7:
http://cadao.org/index.php?option=co...vit&Itemid=108
Bài 8-14:
http://cadao.org/index.php?option=co...vit&Itemid=108


Danh mục sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư - Lớp Đồng Ấu

Tiểu dẫn
Học vần
Bài tập đọc:
1. Tôi đi học.
2. Tập đọc.
3. Tập viết.
4. Yêu mến cha mẹ.
5. Giúp đở cha mẹ.
6. Thân thể người ta.
7. Khuyến học.
8. Đồ dùng của học trò.
9. Tràng học làng tôi.
10. Ăn uống có lễ phép.
11. Đứa trẻ có lễ phép.
12. Những giống vật nuôi trong nhà.
13. Gọi dạ bảo vâng.
14. Người học trò tốt.
15. Người học trò xấu.
16. Đi phải thưa, về phải trình.
17. Thờ cúng tổ tiên.
18. Học trò đối với thầy.
19. Anh em bạn học.
20. Sớm tối thăm nom cha mẹ.
21. Mùa cấy.
22. Mùa gặt.
23. Anh em như thể tay chân.
24. Chú bác cô dì.
25. Thức khuya, dậy trưa.
26. Học quốc ngữ.
27. Cảnh mùa xuân.
28. Mùa mưa.
29. Mấy điều cần cho sức khỏe.
30. Làm ruộng phải mùa.
31. Công việc ngoài đồng.
32. Con gà sống (trống).
33. Phải sạch sẽ.
34. Cây tre.
35. Chim hoàng anh.
36. Học hành phải siêng năng.
37. Cháu phải kính mến ông bà.
38. Cây to bóng mát.
39. Thờ mẹ kính cha. 
40. Đừng để móng tay.
41. Chớ nhổ bậy bạ.
42. Việc cày cấy.
43. Quyển gia phả (gia phổ).
44. Cái đồng hồ của anh tôi.
45. Ngày giờ.
46. Cầu mưa. 
47. Con cóc.
48. Chim chèo bẻo.
49. Thương yêu kẻ tôi tớ.
50. Không nên tắm rửa nước bẩn(1).
51. Đói cho sạch rách cho thơm.
52. Con trâu với người đi cày.
53. Tham thực cực than.
54. Cả nhà ai cũng có công việc.
55. Cánh đồng nhà quê.
___
(1) dơ.

Ghi chú:
Trong sách này, những tiếng đứng giữa ngoặc đơn, hay ( ), là tiếng Trung kỳ của tiếng Bắc kỳ đứng trước; những tiếng có số ở dưới bài là tiếng Nam kỳ của tiếng Bắc kỳ có số viết lên trên (superscript) tương ứng. 
Ví dụ 1: này (nầy); (nầy): tiếng “nầy”, đứng giữa ngoặc đơn ( ), là tiếng Trung kỳ của “này”, tiếng Bắc kỳ. 
Ví dụ 2: xin xem câu “Năm nay tôi lên(1) bảy” trong bài “1. TÔI ĐI HỌC” dưới đây và tiếng có số “(1) nên”, bên dưới bài (nhưng không nằm trong phần giãi nghĩa). Ở đây với “(1) nên” có nghĩa là “nên” là tiếng Nam kỳ của “lên” (1), tiếng Bắc kỳ với số viết lên trên ở đây là (1). Nói cách khác, “lên” là tiếng Bắc kỳ và “nên” là tiếng Nam kỳ có cùng một ý nghĩa. Xin xem chú cước ở cuối bài TIỂU DẪN trong QVGKT - Lớp Đồng Ấu.
Ngoài ra với các từ ghép, QVGKT ấn bản năm 1935 hay dùng dấu nối, hay hyphen (-), giữa các từ này. Ví dụ: cao-ráo, lêu-lổng trong QVGKT ấn bản năm 1935. Ngày nay ít ai dùng dấu nối (-) giữa các từ ghép, trừ các từ phiên âm từ các tiếng nước ngoài, như bu-gi, ki-lo-gam (do các từ bougie, kilogramme của Pháp).Trong bản đánh máy này, các từ ghép sẽ không dùng các dấu nối (-), khác với các từ ghép trong nguyên bản QVGKT- Lớp Đồng Ấu ấn bản năm 1935. 
(Ghi chú của TV).




Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

"sắc tức thị không" "không tức thị sắc"


Không , tiếng Phạn gọi là Sa ny a ta, là bản thể . Sắc là hiện tượng của bản thể ấy. Sắc bất dị không , không bất dị sắc , sắc tức thị không , không tức thị sắc, nghĩa là : hiện tượng không khác với bản thể, bản thể không khác với hiện tượng , hiện tượng tức là bản thể , bản thể tức là hiện tương . Ví dụ cụ thể : sóng tức là nước , nước tức là sóng . Đây là thuyết Bất Nhị của Phật giáo . Khi học pháp, đức Phật phương tiện chia ra 2 phạm trù để chỉ dạy : Tánh Và Tướng. Tánh là bản thể , tướng là hiện tượng. Phật sợ rằng chúng sanh không hiểu chia ra 2 phạm trù như vậy để dễ hiểu mà hiểu lầm tánh khác với tướng nên bằng kinh Bát Nhã Phật nói : Không tức là sắc, sắc tức là không , nghĩa là bản thể ( Tánh ) tức là hiện tượng ( tướng ) , hiện tượng ( tướng ) tức là bản thể( tánh ).

Bạn có thường hay soi gương không? Ở trong tấm gương có cái bóng trong đó, tuy có cái bóng mà thực ra chẳng có cái gì ở trong gương cả, dầu bạn có tìm khắp muôn phương vẫn chẳng thấy bóng đâu cả. Đó là có tức là không hay là "sắc tức thị không"
Ở trong gương không có một vật gì cả mà ta lại thấy có cái bóng in trong ấy rõ ràng. Đó là không tức là có hay là "không tức thị sắc"

                                                                                
mạng là ảo
tôi là thực
tình cảm của tôi là thực
khi bạn sống trong thế giới ảo thì tôi là thực
khi bạn bước ra thế giới này thì tôi là ảo
tôi là thực khi bạn cần chia sẻ
tôi là thực khi bạn cô đơn trong bóng đêm
tôi là thực khi bạn dối diện với máy vi tính
thế giới thực , tôi ảo
thế giới ảo tôi thực
thế giới thực bạn thực 
thế giới ảo bạn ào
thực thực ảo ảo chỉ cách nhau một đường chỉ nhỏ thôi,nhưng ...nó làm tôi đau lắm
tôi không biết mình đâng sống trong thế giới nào thực hay ảo?
tôi sống thực nhưng vẫn chờ những con người ảo
chờ đợi gì đây ?tôi không biết...tôi chì biết mình đã ngu ngốc trong cả 2 thế giới này
tôi sợ đánh mất nhửng người bạn ảo khi tôi sống thực...tôi sự bạn ảo chối bỏ thế giới thực của tôi
tôi cần gì ?sự quan tâm qua lời nói của những người bạn ảo?tôi thật ngốc....
..... (sưu tầm)
qua lời tự sự trên ,giữa cái có và không giữa cái hư và thực rất giống nhau , chỉ khác nhau là cái thực là cái tôi 'cần', tôi 'muốn' còn ngoài ra khi không còn sự ham muốn thì đời và cuộc sống cũng chỉ là hư không, vô định ,vậy tu là bớt những cái ham cái cần cái muốn để tiến tới cái hư cái không , nên chẳng là không , chẳng là có, "đắc" là đạt, là chứng ngộ, là hiểu được cái hư và cái thực để đường tu trở nên trọn vẹn không còn quyến luyến đế sự cần ,sự muốn, nữa tức là đến cái "không". mà không ,không có nghĩa là con zê rô, mà nó là cái thực , đúng như bạn Thanh quang nói, không từ ngữ diễn tả , rất khó nói, mà chỉ bằng cảm nhận, và bằng hình tượng minh họa cho dễ hiểu thôi
như minh họa qua câu chuyện "Mộng hồ điệp"
Xưa Trang Châu chiêm bao thấy mình là bướm, vui phận làm bướm, tự thấy thích chí, không còn biết là Châu nữa. 
Chợt tỉnh giấc, lại thấy mình là Châu. 
Không biết Châu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Châu? 
Châu và bướm ắt phải có tính phận khác nhau. Đó gọi là vật hóa. 
Lời bàn: 
Bàn đến cái Mộng và cái Thực mà đem chuyện chiêm bao hóa bướm, thật là kỳ diệu. Ý nghĩa tuy đa diện, nhưng tựu trung đều quy vào một lẽ là vượt lên vấn đề sinh tử. Sinh đây phải chăng là Tử đó, Tử đó phải chăng là Sinh đây. Vấn đề Hư Thực, Thực Hư quả đã được đặt ra một cách hết sức tài tình thi vị Nếu bảo Mộng, thì cảnh nào mà không phải là Mộng, mà bảo là Thực thì cảnh nào không phải là Thực ....

rong box Văn mình từng có 1 câu NLXH như thế này mà. không nhớ của ai, tớ post tạm vậy, bạn tham khảo để ôn thi, khi nào rảnh quay qua tìm tác giả rồi cảm ơn. Mình tìm rồi nhưng... nhiều chủ đề quá, chả nhớ đã copy ở chủ đề nào:D
/ Suy nghĩ của anh chị về ý nghĩa triết lí nhân linh, trong 2 lời thoại : Hồn Trương Ba trong cuộc trò chuyện giữa Hồn Trương Ba với Đế Thích.
"Không thể bên trong một đằng bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn là tôi toà vẹn". "Sống nhờ vaò đồ đạc của người khác đã là một chuyệ không nên, mà đằng này đến cái thân tôi cũng sống nhờ anh hàng thịt. Ông chỉ nghỉ đơn giản là tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ôg chẳng cần biết."



Thứ Ba, 12 tháng 3, 2013

KHI ĐÀN TRÂU DÀN HÀNG NGANG

Trên kênh truyền hình “ANIMAL PLANET” thường trình chiếu những hình ảnh về cuộc sống hoang dã “The Wild Life”, đặc biệt là cảnh những con mãnh thú rình rập, rượt đuổi vồ mồi, còn nạn nhân bất hạnh của nó thì bằng mọi cách chống trả hay tẩu thoát khỏi sự truy sát của kẻ săn mồi. Những cảnh đó có thật một trăm phần trăm, không hư cấu, dàn dựng và nhân vật thì sống động vô cùng, từ “trang phục” cho đến diễn xuất. Nó thể hiện một sự thật tàn nhẫn, song cũng đầy chất bi hùng của bản năng sinh tồn. Mặc dù không có kịch bản nhưng những đoạn phim quay cảnh đời sống hoang dã luôn cho ta một cảm xúc mạnh. Nó đánh thức lòng trắc ẩn, sự liên tưởng của người xem, dẫn đến một trí tưởng tượng hay ước muốn đến một kết cục nào đó tùy theo tình cảm và thái độ của mỗi người.



Thông thường tôi rất hay bị mủi lòng thương cho số phận những con mồi yếu đuối bị rượt đuổi, bị xé xác và ăn sống nuốt tươi bởi những con mãnh thú - kẻ săn mồi.

Những thú săn mồi thường là hổ, báo, sư tử, cá sấu, cá mập hay lũ Chó rừng. Đành rằng, những con thú này thậm chí đang có tên trong sách đỏ cần được bảo vệ; nhưng thú thực khi xem cảnh chúng tranh nhau cắn, xé con mồi đang dãy dụa, tuyệt vọng thì tôi thực sự căm ghét lũ “thợ săn” đó và chỉ mong sao con mồi thoát khỏi nanh vuốt của chúng hoặc con ác thú kia bỗng nhiên bị một viên đạn hay bị một con thú khác khoẻ hơn ăn thịt.

Đành rằng, “Chúa” sinh ra muôn loài, loài nào cũng phải tồn tại; và, để tồn thì phải có nguồn thức ăn cho chúng. Biết đâu những con dê con cừu kia chính là món quà Thượng đế giành cho hổ báo hay sư tử để tồn tại? Đấy là quy luật của Đấng tạo hoá; nhưng mỗi khi chứng kiến ta vẫn bị một cảm giác rất lạ về sự đấu tranh sinh tồn đầy nghiệt ngã.

Những cảm xúc từ cuộc sống hoang dã khi được liên tưởng đến đời sống xã hội loài người khiến ta không khỏi giật mình nhận ra rằng: xã hội loài người nếu không được kiểm soát và tổ chức theo một trật tự tương thích với sự phát triển về của cải vật chất sẽ dẫn đến thác loạn, man dại hơn cả cuộc sống hoang dã. Những cá thể có quyền lực không tương thích với mức độ tiến hoá và trình độ nhận thức cần thiết của cá nhân thì sự tàn nhẫn còn man rợ hơn cả loài thú.

Thiếu giáo dục, chậm tiến hoá và mất kiểm soát dẫn đến mất nhân tính thì sự man rợ của con người = sự hoang dã của động vật + mưu mô thủ đoạn của con người. Loại “nửa người nửa ngợm” đó phá hoại và triệt hạ hết thảy môi trường thiên nhiên từ cây cỏ đến muông thú không tiếc tay. Tàn bạo hơn nữa loại “nửa người nửa ngợm” đó triệt hạ và ăn thịt cả đồng loại, điều mà ngay cả với lũ lang sói hoang dã cũng hiếm khi sảy ra.

Xã hội man dại đó là đặc trưng dễ nhận biết nhất của những quốc gia nơi mà nền dân chủ không được thực hiện triệt để, pháp luật không được thượng tôn. Ở đó chỉ có luật rừng và chính quyền bị đặt dưới bàn tay của những kẻ độc tài cai trị quốc gia. Chúng bắt chấp hiến pháp, ngồi trên pháp luật, bỏ qua các công ước quốc tế, sử dụng luật rừng để thống trị và biến xã hội thành một khu rừng hoang dã, biến những người dân lao động hiền lành thành những con cừu, con dê để sai khiến, đuổi bắt, tước đoạt sự sống bất cứ lúc nào. Càng liên tưởng, càng thấy sao mà người dân ở những sứ sở ấy lại nhu nhược thế, lại khờ khạo và dại dột thế. Họ chẳng khác gì những con cừu, con dê đần độn hay con hươu, con nai ngơ ngác sẵn sàng làm mồi cho những kẻ săn mồi.

Có những thước phim quay cảnh đàn linh dương Châu Phi nhiều tới cả triệu con di chuyển trên phạm vi hàng trăm dặm vuông, với khí thế “long trời lở đất” nhưng lại run sợ khi chứng kiến cảnh một vài con trong đàn bị sư tử đuổi bắt, quật đổ rồi xé xác ăn thịt; vậy mà đám linh dương khổng lồ kia chẳng biết làm gì khác ngoài việc chạy thục mạng, phó mặc tính mạng cho sự may rủi. Lúc đó ta tưởng tượng ra một kịch bản khác chẳng hạn, giá như lũ linh dương kia tập trung nhau lại thành một khối lớn lao vào mấy con sư tử thì chắc chắn lũ sư tử phải cao chạy xa bay không còn dám bén mảng đến gần nữa. Nhưng không, sư tử vẫn là sư tử, dê vẫn là dê. Nếu dê mà có trí khôn hơn một chút thì câu chuyện đã khác rồi.

Vậy những con người ở cái sứ sở kia thì sao? Họ có trí khôn đấy chứ, họ có số lượng đông lắm chứ nhưng tại sao họ lại chịu số phận của những con dê, con cừu. Họ bị lùa đi thành đàn, bị xé lẻ, chia rẽ hoặc bị “làm thịt” để mua vui hay làm giàu cho những kẻ thống trị. Biết đến khi nào những “con dê”, “con cừu” ở cái sứ sở ấy mới tỉnh ngộ và nhận ra mình cũng là con người?

Loài vật gần đây hình như cũng bắt đầu có trí khôn thì phải. Có thể do tiến hoá hoặc giả do bản năng tự vệ để sinh tồn mà bỗng chốc nó có phản ứng giống như những con người có suy nghĩ. Đó là câu chuyện về cuộc chiến giữa đàn trâu và bầy hổ.

Câu chuyện bắt đầu với hình ảnh một con nghé bị đàn hổ đuổi bắt. Cả bầy hổ đói hơn chục con gào thét cắn xé con nghé, ăn sống ngay tại chỗ trước sự chứng kiến của con trâu mẹ. Con trâu mẹ với con mắt đỏ ngầu chạy rất nhanh tưởng nó bỏ trốn. Nhưng không, chỉ sau vài phút cùng với con trâu mẹ, cả một đàn trâu rừng gần trăm con xuất hiện, lồng lộn lao vào bầy hổ. Lúc đầu không ai nghĩ là tình thế lại xoay chuyển nhanh như thế. Ngay cả lũ hổ cũng bị bất ngờ. Những con trâu đầu đàn nặng cỡ trên một tấn điên khùng như mất hết cả sự sợ hãi, dũng mãnh nghiêng cặp sừng dữ tợn lao thẳng vào đàn hổ khiến lũ hổ phải bỏ chạy thục mạng. Chưa dừng lại, đàn trâu chia nhau thành từng nhóm, truy đuổi từng con hổ một, cho đến khi lũ hổ chạy mất hút không còn bóng con nào nữa. Có con bị húc lòi ruột văng xuống sông, có con bị húc tung lên, rơi xuống như tung hứng. Thật mãn nhãn khi đuợc xem những thước phim quý giá đó. Một cuộc chiến đầy bản năng và mang đậm nét sử thi hùng tráng. Cuộc truy đuổi đã thể hiện sự nổi giận của đàn trâu có tổ chức, mang một sắc thái của sự vùng lên rất rõ ràng. (Câu chuyện đó có phần nào giống với hành động của gia đình ông Đoàn văn Vươn ở Tiên Lãng Hải Phòng Việt Nam hồi đầu năm nay).

Hành động nổi xung của đàn trâu chứng tỏ nếu trâu biết đoàn kết, biết tập trung sức mạnh thì mười mấy con hổ đói kia cũng chẳng là gì. Một khi sự tàn nhẫn đến mức tận cùng thì nỗi giận giữ do bị chà đạp sẽ lên đến tột đỉnh. Và kết cục những kẻ gây gió bao giờ cũng phải gặp bão!

Hình ảnh những con trâu hiền lành như đất còn biết điên cuồng chống lại bầy hổ đói hung giữ đã gợi cho con người một triết lý gì? Phải chăng hàng chục triệu người ở cái sứ sở man dại kia không bằng những con trâu, họ phải khuất phục và chịu sự áp đặt của những tên vô lại tham lam, tàn bạo? Sự nhẫn nại cũng có giới hạn. Nhẫn nại là một phẩm chất cần thiết, nhưng đừng nhẫn nại đến mức hèn nhát. Ai đó đã nói “cái giá phải trả cho những người lương thiện hèn nhát là sẽ bị những kẻ tàn bạo thống trị”.

Có lẽ những thước phim về đàn trâu nổi giận của nhà quay phim người Mỹ tại một thảo nguyên ở Kenya còn bao hàm một ý nghĩa gì khác chăng?

Hà Nội 29.08.2012

--bài của: TÙNG LÂM